Tự học dịch thuật

Bộ Luật Hammurabi của đế quốc Babylon

Năm 1902, phái đoàn khảo cổ học Pháp phát hiện ở Sura một cây trụ đá hoa cương khắc toàn bộ văn bản bộ luật Hammurabi. Cây trụ đá hiện nay tàng trữ tại Viện bảo tàng Louvre nước Pháp.

Vua Hammurabi và sự ra đời của bộ luật

Hammurabi là vị Vua thứ 7 thuộc vương triều thứ nhất Babylon [Theo từ điển Le Petit Larousse – 1995 của Nhà xuất bàn Encyclopédique – Paris, trang 1386 cố nói Bộ luật Hammourabi xuất hiên dưới Vương triều Vua Babylon (1793 – 1750 Tr.CN) BBS], ở ngôi 43 năm khoảng năm 1728 đến 1686 Tr.CN. Nhà Vua đã hai lần soạn luật. Lần thứ hai soạn vào năm thứ 34 (khoáng năm 1694 Tr.CN) khắc lên trụ đá bằng văn tự cổ Babylon. Vương quốc của Hammurabi vốn nhỏ, sau xâm chiếm mở rộng gần như bao gồm toàn bộ lãnh thổ nước Irak ngày nay, cho nên việc biên soạn bộ luật nhằm thống nhất lãnh thổ là điều tối cần thiết. Khoảng 5 Thế kỷ sau, Vua Elam đánh chiếm khu vực này đem cây trụ đá đến Sura. Môt số chỗ bị đục phá để khắc tên Vua Elam.

Toàn bộ cây trụ đá ghi lại 282 điều luật cùng một lời nói đầu và lời bạt. Nhờ phát hiện một sô’ tấm đất sét – thư tịch (viết chữ trên đất sét rồi khơi phô) ở Thư viện Ashishurbanipal bổ xung một phần các chỗ bị đục của cây trụ. Tuy vậy vẫn còn khuyết các điều 68. 69, 70, 71. 72. 73, 74. 75, 76, 77, 79, 80, 81,83, 84, 85, 86, 87, 97 cà thảy thiếu 19 điếu. Tuy nhiên tổng số điều luật, sô’ điều luật bị mất, sai dị không đáng kể trong các bản dịch khác nhau.

Trụ đá khắc bộ luật Hammurabi, hiện tại bảo tàng Lourve của Pháp
Trụ đá khắc bộ luật Hammurabi, hiện tại bảo tàng Lourve của Pháp

Nội dung bộ luật Hammurabi

Vào năm 1902, cha Vincent Scheil đã dịch bồ luật ra tiếng Pháp, vế sau đã dịch ra tiếng Anh, Đức, Nga, Hoa. Trước bộ luật Hammurabi đã có vài bộ luật cùa người Sumer và người Akkad cho nên nhà Vua đã có mẫu mực để noi theo. Tuy nhiên bộ luật Hammurabi là bộ luật của xã hội con buôn tiến xa hơn bộ luật Mười hai Tấm Đổng của La Mã soạn thảo 13 Thế kỷ sau lại vẫn chỉ là bộ luật của nông dẳn. Bộ luật Hammurabi đề cặp đến những vấn đế pháp luật sau đây:

  1. Các tội vu cáo, xăm phạm, sở hữu, xâm phạm gia cư, chiếm đoạt nô lệ, cướp bốc, gian dâm, loạn luân, binh sĩ đào nhiệm, sĩ quan tước đoạt vật sở hữu hay bắt lính làm thuê… đều xử tử.
  2. Luật về nghĩa vụ và quyền lợi của người linh liên quan đến việc cấp ruộng đất, nhà cửa, mua bán nhà cửa, kế thừa nhà cửa của người lính được cấp. Luật xử lý tài sàn đó trong các trưởng hợp khác nhau như bị bắt làm tù binh, không đủ sức đảm đương nhiệm vụ… Tinh thần chung là bảo vệ quyền lợi của người lính để tạo điều kiện cho họ phục vụ nhà Vua. Ai xâm phạm phải bồi thường.
  3. Luật định tô ruộng đất các loại, định rõ các trường hợp thu tô, miễn tô, mức tô ruộng đất theo tinh chất hoa màu, loại đất, theo thời tiết, theo thiên tai, nhân hoạ… Bảo đảm người có ruộng đất phát canh thu được tô.

4. Luật định về lợi tức cho vay. Điều 89 quy định cho vay mỗi KURU cốc vật lãi là 100 KA, cho vay mỗi Sakhre bạc lấy lãi 1/6 sakhre và 6 she (mỗi Sakhre bằng 8,4 gam và bằng 180 she). Điều 91 quy định nếu lấy lãi cao hơn mức đó thi người cho vay mất của cải cho vay. Đồng thời cũng quy định cách thanh toán vay nợ. Nếu tính ra cứ 8,4 gam bạc cho vay sẽ lãi 1,68 gam bạc, lãi suất khoảng: 20% (có lẽ lợi tức đồng niên một năm vì trong luật không ghi thời gian).

5. Luật định về quan hệ buôn bán: về việc hùn vốn, việc gian dối trong buôn bán, đặc biệt bà bán rượu đong cán gian thì bị ném xuống sông. Qui định buôn bán nồ lệ hay bán vợ bán con từng trường hợp cụ thể…

6. Luật về hôn nhắn và gia đình gổm 66 điổu rất ct)i tiết về thoái hõn, ly hôn, vợ cả vợ lẽ, con cắi vợ cà, vợ lẽ, vợ kế, nàng hầu. con nuôi, kế thừa tài sản cha mẹ, di chúc, truất quyền thừa hưởng gia tài… Tất cả đều quy định rất chi tiết vởi mục đích đảm bảo quyển thừa kế của người con đúng theo vị trí của họ trong quan hộ vởi người cha (được cha công nhận hay không). Luật quan tâm bảo đảm đời sống cho những người vạ không có con, nàng hầu có con mà không được chủ nhận con, giành cho họ điều kiện sinh sống tối thiểu không bị bạc đãi tước bỏ quyền sống.

7. Luật xét xử ẩu đả theo tinh thần lấy mắt đền mắt lấy răng đền răng, tức đồng thái phục thù.

8. Luật định mức thù lao cho thầy thuốc chữa các bệnh khác nhau cho người và cho thầy thuốc thú y chữa bệnh cho gia súc. Vi dụ chữa mắt được trả thù lao 10 she (khoảng 0,5 gam bạc). Giá thù lao đó khác nhau tùy theo đẳng cắp bệnh nhân, thù lao chữa mắt cho nô lệ chỉ 2 she (0,1 gam bạc). Nếu Chữa mát mà làm hỏng mắt hay chết người dân tự do thì thầy thuổc bị chặt ngón tay. Nếu là nô lệ bị chết trong trường hợp tương tự thì thầy thuốc phải bồi thường một nô lệ. Chữa bệnh cho trâu thì chỉ trả 1/6 she bạc.

9. Luật thù lao và xét xử kiến trúc sư xây nhà và thợ đóng thuyền. Cứ một sa (khoảng 35m2) diện tlch xây dựng thì kiến trúc sư hưởng 2 she (0,1 gam) bạc. Nếu nhà đổ chết chù thi xử tử kiến trúc SƯ, nếu con chủ nhà chết thì xử tử con kiến trúc sư… Thợ đóng thuyền hưởng 2 she (0,1 gam) bạc cho dung tích thuyền 60 kuru. Nếu thuyền không tốt bị hỏng thi thợ phải làm lại.

10. Luật về thuê mướn thuyền, trâu, xe, nhãn công được chia làm 41 điều. Quy định rõ tién thuẻ mưởn thuyền, tràu, xe, nhân công các loại như thuê trâu cày một nẳm 4 kuru cốc vật, thuê một người chăn trâu trả m&i năm 8 kuru cổc vật… Định mức xét xử các trường hợp đắm thuyổn, trâu húc người, nhăn cõng ăn cắp, để mất gia súc… Riêng tiển thuê thợ thủ cống thì định lượng công nhật tì mỉ; đáng tiếc các dòng chữ đó bị mất, chỉ còn đọc được tên thợ còn giá tiển thi lại không rỗ, hình như thợ đào đất và thợ mộc mỗi ngày 5 she (0,25 gam) bạc.

11. Luật về mua nô lệ mà sinh ra tố tụng, tật bệnh, mua lầm nỗ lộ của người khác, mua nô lệ ngoại quốc… hoặc phải trả lại, hoặc được bồi thường…

Tượng đầu của vua Hammurabi tại bảo tảng Lourve
Tượng đầu của vua Hammurabi tại bảo tảng Lourve

Đánh giá bộ luật

Nói chung bộ luật quán xuyến các mối quan hệ xã hội, gia đình các vấn đề tư hữu tài sản. kế thừa, di chúc, vay mướn, mua bán thuê nhân công, mua nô lệ, mùa bán thuê mướn động sàn và bất động sản… rất chi tiết. Luật phân biệt mức trừng phạt cũng như thù lao theo từng đảng cấp xã hội khác nhau hoặc Vua, hoác quan, hoặc lính, hoăc dân tự do, hoặc nỏ lệ… Tiêu chuẩn là dân tự do. Việc buôn bán thuê mướn đều có khế ưóc, người làm chứhg. Việc xét xử phải có bằng chứng cụ thể và đăc biệt đã có một điều luặt nói về quan toà. Điều 5: “Nếu quan toà xử ản, đưa ra phán quyết rồi sau đó lại thay đổi phán quyết, thì phải vạch tội tự ỷ thay đổi phàn quyết của ỗng ta, phạt gấp 12 lên số tiền phạt của nguyên án. Hội nghị thẩm phán cách chức quan toà này, không được xếp vào hàng ngũ quan toà nữa, đưa ra khỏi Hội nghị thẩm phán”. Chỉ có một điều, ấy tưởng chừng đơn giản, thật ra nó đã bảo đảm cho 281 điều còn lại được thực thi.

Cấu trúc của bộ luật khá đặc sắc. Bắt đầu bằng tư cách nguyên cáo, tiếp theo tư cách quan toà. Sau đó mới là bị cáo. BỊ cáo dàn trải 277 điều làm thành nội dung chính bộ luật. Bộ luật phân biệt các đảng cấp xã hội trên cơ sở đó định thang hình phạt. Các tội danh phản ánh bộ mặt một xã hội nông nghiệp, thù công nghiệp, thương nghiệp phát triển. Điều đáng lưu ý là hoạt động thuê mướn nhân công, phương tiện, vay mượn tiền bạc của cải, hợp đồng cho vay, địa tô… chiếm khoảng 1/5 bộ luật. Bộ luật tập trung giải quyết ba vấn đế: quyền sở hữu, quan hệ hôn nhân và gia đình cùng quyền thừa kế, quyền ly hôn và hợp đồng thuê mướn nhân công, thuê trâu, xe, thuyền để đi buôn bán. So với những bộ luật thời Trung cổ thì quả là phần thương nghiệp rất được đế cao tuy rằng phần nóng nghiệp với sở hữu ruộng đất vẫn là mối quan tâm lớn của xã hội.

Trong khu vực Lưỡng Hà, trước bộ luật này đã có Bộ luật Sumer, Bộ luật của Eshnunna. Bộ luật Sumer còn lại 9 điều, nội dung được biết không đề cập thương nghiệp mà giải quyết quan hệ hôn nhân gia đinh là chính. Bộ luật Eshnunna có 61 điều chỉ mất hai điều cuối cùng. Bộ luật này đề cập đến thương nghiệp khá nhiều gần như Bộ luật Hammurabi.

Bộ luật Hammourabi tập hợp lại từ hai bộ luật trên. Là bộ luật cổ còn hoàn chỉnh nhất.

PGS. TS NGUYỄN DUY HINH

KHÁM PHÁ


Viết một bình luận