Kể chuyện đất Bạc Liêu xưa

Bài viết tổng hợp từ sách Bạc Liêu Xưa của tác giả Huỳnh Minh, xuất bản năm 2002 của NXB Thanh Niên

Sách được số hóa bởi Thư viện TV4U. Các bạn có thể tải sách đầy đủ tại đây.

Ngược dòng thời gian, vào đầu thế kỷ thứ XVIII, Bạc Liêu hãy còn là một hoang địa. Theo sử sách và lời thuật lại theo ký ức của các bô lão, thì dân cư đến sinh cơ lập nghiệp ở vùng này chưa quá 200 năm. Những di tích lịch sử như các đình chùa, miếu mộ đã xác nhận điều đó.

Những cư dân đầu tiên đã đến sinh cơ lập nghiệp ở đấy vì nhận thấy có hai phương thế thuận lợi để sinh sống. Một là gần biển thuận lợi cho ngư nghiệp. Hai là đất phù sa phì nhiêu thạnh mậu, trồng trọt thứ gì cũng đắc lợi. Nơi người ta đến ở đầu tiên là khu vực của tổng Thanh Hưng hiện thời.

Những người đến ở vùng này trước nhất là người Miên từ Sóc Trăng và Trà Vinh qua, với những người Tàu gốc Triều Châu tới lập cơ sở đánh cá và trồng tỉa hoa màu trên những đồi cát dọc theo bờ Nam Hải. Hiện nay cũng có những Huê kiều tiếp tục sinh nhai về hai nghề ấy. Lại cũng có một ít Huê kiều thử làm ruộng muối.

Những ruộng muối thời xưa nằm gần kề bên tỉnh lỵ Bạc Liêu bây giờ, nhưng ngày nay thì lại cách tỉnh lỵ ấy rất xa. Đó là bằng chứng : ngày trước bờ biển nằm ngay chỗ hiện thời là tỉnh lỵ ; đất bồi lần hồi đã lấn ranh giới của biển dang ra xa, để cho người chiếm ở.

Trải 142 Năm (1740-1882) Từ Huyện Trấn Di Đến Tỉnh Bạc Liêu

Từ đầu thế kỷ 18, trên bước đường Nam tiến, dân Việt ta lần hồi có mặt nơi vùng đất Bạc Liêu, Cà Mau. Cho đến khi chúa Nguyễn Ánh chạy trốn quân Tây Sơn, chúa tôi binh tướng nhà Nguyễn qua vùng đất này thường hơn nơi nào cả.

Bạc Liêu khi xưa chỉ là một huyện trực thuộc guồng máy hành chánh của trấn Hà Tiên lúc ấy gồm có 4 huyện như sau :

1) Long Xuyên (Cà Mau bây giờ)

2) Kiên Giang (Rạch Giá)

3) Trấn Giang (Cần Thơ)

4) Trấn Di (Bạc Liêu)

Đầu thế kỷ 19, miền Nam Việt Nam chia thành 6 tỉnh, thường gọi là Nam kỳ lục tỉnh :

Ba tỉnh miền Đông gồm có :

1) Gia Định

2) Biên Hòa

3) Định Tường

Ba tỉnh miền Tây :

4) Vĩnh Long

5) An Giang

6) Hà Tiên

Cố nhiên trong giai đoạn nầy Bạc Liêu vẫn là phần đất còn nằm trong hệ thống tỉnh Hà Tiên. Mà Hà Tiên trải qua các đời Chúa Nguyễn đều giao trọng trách cho họ Mạc (Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích) làm Tổng binh Đại đô đốc, canh phòng chốn biên thùy, ngăn chống quân Xiêm (Xiêm La tức Thái Lan), dẹp quân Chân Lạp (Cao Miên tức Cam Bốt thường sang quấy nhiễu). Họ Mạc vốn người Việt gốc Hoa, nên lúc Hà Tiên được khai sáng phồn thịnh, thì người Trung Hoa ở Phúc Kiến, Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, vì chống lại nhà Mãn Thanh nên bị săn đuổi trốn sang Hà Tiên ngày một đông. Do đó, đời tổng binh Mạc Thiên Tích (con Mạc Cửu), đoàn người Trung Hoa lưu vong ấy dần dần được di cư tới huyện Trấn Di để khai hoang lập nghiệp, nhiều nhất là người Triều Châu. Chính vì thế mà ngày sau, người Triều Châu (tục gọi là người Tiều) chiếm gần hết guồng máy sinh hoạt ở Bạc Liêu.

Đời Tự Đức, Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương có đến tận vùng nầy lập nhiều đồn điền và làng xã.

Đến lúc sáu tỉnh Nam kỳ thuộc Pháp, từ năm 1882, Bạc Liêu mới được lập thành tỉnh.

Tìm Hiểu Danh Từ Bạc Liêu

Danh từ Bạc Liêu, đọc theo tiếng Hoa kiều, giọng Triều Châu gọi là Pô Léo, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, đánh cá, đi biển.

phát âm theo tiếng Hán Việt là “Bạc” và Léo phát âm thành “Liêu”.

Một thuyết khác cho rằng : là bót, đồn. Liêu là Lào (Ai Lao) theo tiếng Cao Miên, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh do người Lào đồn trú.

Người Pháp do theo tiếng Triều Châu Pô-Léo có nghĩa là xóm nghèo làm nghề hạ bạc – như đã nêu ở trên nên dịch theo nghĩa ấy là Phêcherié – chaume (đánh cá và cỏ tranh)

Bạc Liêu Trải Qua Cuộc Biến Loạn

Từ năm Đinh Dậu 1777, cuộc tranh chấp giữa quân đội Tây Sơn và quân đội chúa Nguyễn đến giai đoạn quyết liệt, vùng Bạc Liêu Cà Mau từng là nơi chúa Nguyễn bôn tẩu. (Chúng tôi sẽ lần lượt kể các chuyện trong khi “Gia Long tẩu quốc” nơi phần thứ II và phần thứ III).

Ngoài cuộc nổi loạn lớn ấy, còn có lắm cuộc biến động hãi hùng trên vùng đất Bạc Liêu :

1) Loạn Hoa Kiều Phủ Liêm

Thế sự tuần hoàn, hết suy đến thịnh.

Sau thời kỳ thua Tây Sơn xiểng niểng và chạy trối chết, lại đến hồi Nguyễn Ánh nhờ ngoại viện trở phản công, Tây Sơn hết thời, Nguyễn Ánh thống nhất giang san, lập triều đại nhà Nguyễn dưới danh hiệu Gia Long hoàng đế.

Suốt thời đại Gia Long, Bạc Liêu không có gì lạ. Qua thời đại Minh Mạng xảy ra cuộc nội loạn do Hoa kiều chủ xướng.

Năm 1840, một Hoa kiều Phủ Liêm gây loạn chống Nam triều. Nguyên do : vua Minh Mạng vì tư thù nên xử tệ với công thần của tiên đế : Tả quân Lê Văn Duyệt Tổng trấn thành Gia Định.

Lúc sống không dám ngang nhiên ngược đãi, vua Minh Mạng chờ đến lúc Tả quân tạ thế mới dùng nghiêm luật nhục mạ đấng công thần, gây công phẫn trong dân tâm, thúc đẩy nghĩa tử Lê Văn Khôi dấy lên. Trong bộ tham mưu của Lê Văn Khôi có người Hoa kiều là Mạch Tấn Giai làm đầu não. Do đó, khi binh triều dẹp xong Lê Văn Khôi chẳng khỏi đàn áp thẳng tay đến người Hoa kiều ở rải rác khắp nơi trên lãnh thổ ta lúc bấy giờ.

Bị tình nghi có dính líu vào cuộc Lê Văn Khôi dấy binh, những Hoa kiều ở Bạc Liêu bị quan quân triều Minh Mạng khủng bố đủ điều. Bất bình, họ nổi loạn chống triều đình, dưới sự lãnh đạo của Phủ Liêm, từng đoàn kéo đi đốt phá cướp bóc không nương tay để trả đũa. Dân chúng ở Cà Mau chịu thiệt hại rất nhiều. Viên tri huyện Nguyễn Hiền Năng bị hạ sát. Tại Tân Xuyên hiện nay có một đài kỷ niệm do dân chúng tự dựng lên, để kỷ niệm công đức ông Huyện Năng (ông huyện này, lúc sanh tiền vốn là một minh quan một người hiền đức mới được nhân dân đối xử như thế) 1

Đối với quân nổi loạn của Hoa Kiều do Phủ Liêm cầm đầu, quan quân ở Châu Đốc và Hà Tiên đồng tâm hiệp lực kéo binh qua chinh tiễu một thời gian mới đàn áp được.

Do kinh nghiệm vụ nầy, về sau Nam triều đã lập một huyện tại Cổ Cò, với mục đích hoàn toàn về chiến lược. Đồn binh ở Cổ Cò hiện nay chỉ còn để lại một nền đất cao làm di tích.

2) Cuộc Nổi Loạn Của Người Miên Tia, Sum

Năm 1859, hai người Cao Miên tên Tia và Sum gốc gác ở Trà Hương là miền hiện thuộc về Sóc Trăng, tự xưng là nguyên soái (Sana) dấy binh làm loạn, lôi kéo theo chúng tất cả người Miên và Hoa kiều. Phong trào phiến loạn sôi nổi dữ dội và trở nên toàn diện ở Bạc Liêu và Sóc Trăng. Viên lãnh binh của Nam triều chỉ huy đồn Bãi Xàu bị tử trận, đồn thất thủ, binh sĩ bị sát hại gần hết.

Hạ được đồn Bãi Xàu, quân phiến loạn phấn khởi thêm lên, kéo đi gây sự khủng bố khắp nơi. Quan binh ở Bạc Liêu vô kế khả thi phải cầu viện với Tổng đốc An Giang.

Vị tổng đốc An giang phái ngay một viên lãnh binh chỉ huy đoàn thủy quân lục chiến kéo đến đánh dẹp. Trong đạo quân nầy, còn có đoàn quân tình nguyện Mã Lai gọi là “Chiến thắng quân”.

Nghe tin, quân phiến loạn dàn trận chống cự. Một trận đại chiến quyết liệt xảy ra tại Vàm Lẻo cửa vào rạch Bạc Liêu. Đạo binh Nam triều đánh cho quân phiến loạn tả tơi không còn manh giáp. Sana Tia tử trận. Quân phiến loạn tan vỡ, vác thây chủ tướng đào tẩu.

Công cuộc bình định đã xong, an ninh tái lập.

3) Người Minh Hương Và Thiên Địa Hội

Từ cuộc đô hộ của người Pháp cho đến mãi về sau, người Tàu và Minh Hương trên đất nước nầy được hoàn toàn độc lập.

Những nghị định năm 1867 và 1870 đồng hóa người Minh Hương với người Tàu, cho họ được miễn nhiều sưu thuế. Mãi đến năm 1874 mới có một sắc lệnh ban hành ngày 31 tháng 8 d.l. thâu hồi những nghị định nói trên và kể từ đó người Minh Hương được đối xử hoàn toàn như người Việt. Chính vào thời kỳ nầy ở Bạc Liêu phát sinh phong trào hội kín “Thiên địa hội”, sự an ninh trong xứ bị rối loạn vì những hội viên “Thiên địa hội” hoạt động phi pháp khủng bố lương dân, bắt buộc những người có máu mặt trong vùng phải đóng tiền vô quỹ của hội.

Những hội viên của hội kín nầy gồm có người Hoa kiều, người Minh Hương và cả người Việt cũng có chân nữa. Ở vùng Bạc Liêu có hai Thiên địa hội hoạt động mạnh và gây rối loạn hơn hết là Hội Nghĩa hưng kèo (cờ) xanh và Hội Nghĩa hòa kèo vàng. Hai hội tranh đua giành giựt ảnh hưởng và quyền lợi với nhau, thường gây ra những trận ẩu đả chém lộn đổ máu làm mất an ninh. Để vãn hồi trật tự, bảo vệ an ninh cho dân chúng, chánh quyền mới quyết định phải lập một trung tâm hành chánh tại Bạc Liêu. Do đó, tỉnh Bạc Liêu hình thành vào năm 1882.

4) Loạn Lâm Lâm

Thổ dân Lâm Lâm cầm đầu dân Lạc Hòa quận Vĩnh Châu nổi loại đồng thời với loạn Tia, Sum đã nói trên tại bãi Phù Tự (tên cũ của Bãi Xàu, tức là quận Mỹ Xuyên hiện thời). Nam triều phải vô cùng vất vả mới dẹp xong. Trong dịp nầy Nguyễn Tri Phương vâng chỉ vua vào tận nơi tổ chức lại hệ thống cơ đội, đồn điền khắp nơi, di tích còn các nền đồn cũ ở các vùng xã Vĩnh Trạch, Vĩnh Mỹ, Long Thạnh, quận Vĩnh Lợi, với một số khí giới tìm thấy khoảng năm 1930.

Những Thăng Trầm, Biến Chuyển Của Bạc Liêu

Trong thời Pháp thuộc, tỉnh Bạc Liêu thành lập vào năm 1882 do viên chủ tỉnh đầu tiên là Lamothe de Carier nắm quyền cai trị. Lúc đầu chỉ gồm có 2 quận : Vĩnh Lợi và Cà Mau. Đến năm 1904, phân ranh lại, lập thêm quận Vĩnh Châu gồm tổng 5 làng. Rồi đến năm 1918, lại cắt phần đất thuộc quận Cà Mau và tỉnh lỵ mà lập thành một quận nữa là quận Giá Rai. Trước sau tất cả gồm 4 quận, diện tích chung phỏng định 705.000 mẫu tây (1/8 diện tích của miền Nam), chia ra như sau :

– Vĩnh Lợi 44.784 mẫu tây

– Cà Mau 521.000 mẫu

– Vĩnh Châu 31.688 mẫu

– Giá Rai 107.531 mẫu

Năm 1947, quận Phước Long thuộc tỉnh Rạch Giá (bây giờ là Kiên Giang) được sát nhập qua Bạc Liêu, trong khi quận Cà Mau trong tỉnh đã đổi thành tỉnh, chia ra 4 quận :

– Vĩnh Lợi

– Vĩnh Châu

– Giá Rai

– Phước Long

Tám năm sau, tỉnh Bạc Liêu bị chính phủ Ngô Đình Diệm bãi bỏ đi. Do sắc lịnh số 143/NV ngày 25-10-55 bốn quận kể trên đã sáp nhập với Sóc Trăng thành ra tỉnh Ba Xuyên, tỉnh lỵ Bạc Liêu trở thành quân lỵ Vĩnh Lợi. Tỉnh Cà Mau thì đổi tên là An Xuyên. Rồi năm 1961, nghị định số 244/NV ký ngày 24-12-61, lại rút quận Phước Long sáp nhập tỉnh Ba Xuyên mà đem vào địa phận tỉnh Chương Thiện mới thành lập.

Những cuộc thay đổi danh từ và ranh giới đều do một ý định : thủ tiêu các tàn tích của thời kỳ thực dân đô hộ. Dụng ý vẫn có hay, nhưng vì không nghiên cứu kỹ, nhắm mục đích tuyên truyền chính trị hơn là nghĩ đến sự thiết thực tiện lợi cho quần chúng, chính phủ Diệm đã động phạm đến luật tự nhiên. Rốt cuộc, vẫn phải trở về đường lối cũ.

Kể từ ngày 1-10-64, tỉnh Bạc Liêu được tái lập do sắc lịnh số 245/NV ký ngày 8-9-64 gồm 4 quận cũ, chia làm 5 tổng, 17 xã :

Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai : rút lại của tỉnh Ba Xuyên

Phước Long : rút về của tỉnh Chương Thiện

Danh Nhân Bạc Liêu

Lược qua phần danh nhân ở Bạc Liêu – Cà Mau từ thời xa xưa đã đem xương máu đóng góp cho đại cuộc quốc gia, hoặc dốc lòng hy sinh lo việc khai hoang lập ấp cho đồng bào địa phương yên vui trong đời sống ấm no, hoặc trai trung gái liệt, bảo toàn tiết trong giá sạch, ta sẽ cảm khái khôn cùng…

Chúa Nguyễn Ánh trong lúc bôn tẩu vào Nam, và sau tái chiếm Phú Xuân thống nhất sơn hà, có phải nhờ vào sự ủng hộ của nhân dân miền Nam, với kho lúa phì nhiêu ở vùng đồng bằng lương thực nuôi quân ? Có phải nhờ các danh tướng anh hùng tại đây hết lòng phò tá, không màng gian nguy, vào sanh ra tử, để làm sáng tỏ tinh thần bất khuất dân tộc ?

Nói đến Bạc Liêu mà không nói qua vài nét chí khí can trường của các hào kiệt, mưu sĩ ở vùng nầy, là một điều thiếu sót lắm vậy.

Chúng tôi xin nêu các vị anh hùng liệt sĩ ở miền Nam đã từng theo chân chúa Nguyễn lập nhiều chiến công hiển hách và liên tục tranh đấu đưa giống nòi đến chỗ vinh quan, cường thạnh.

Thiết tưởng còn biết bao nhà ái quốc chơn thành trong thời cận đại, điểm tô cho nền lịch sử Việt Nam, có công kiến quốc và cứu quốc, chưa được nêu lên, vì sợ e quá sớm. Xin bạn đọc thông cảm, mà chính các sử gia cũng đồng ý với chúng tôi về điểm ấy.

I. Hổ Tướng Dương Công Trừng

Ông là người huyện Long Xuyên (tức Cà Mau ngày nay), nổi danh dũng mãnh, được đương thời xưng tặng là “hổ tướng nhà họ Dương”. Bao nhiêu nhân vật có tiếng võ nghệ ở trong vùng, đến thử sức với ông đều xin bái phục.

Đinh Dậu 1777, Chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần (sau truy dân miếu hiệu là Duệ Tông), cùng với cháu là Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đuổi bức, chạy xuống tận Cà Mau. Ông cám cảnh cho nhà vua, đứng ra chiêu tập dân quân theo giúp. Chẳng may chúa Nguyễn Phúc Thuần bị Tây Sơn bắt tại đấy, rồi đem về Sài Côn (tức vùng Sài Gòn bây giờ) hành quyết, ông càng quyết chí ủng hộ Nguyễn Ánh trong cuộc chống đối Tây Sơn, nhận lấy chức Cai cơ, rồi đổi làm Khâm sai điều khiển.

Dần dần tu chỉnh binh bị, đủ sức quật khởi, ông từ Sa Đéc đem binh hiệp với quân các đạo do chúa Nguyễn chỉ huy ở Hồi Oa, tấn công Tây Sơn tại Long Hồ, rồi đánh thẳng tới, thu phục lại thành Gia Định.

Kỷ Hợi 1779, khoảng tháng 3, Chân Lạp có nội loạn, ông cùng Đỗ Thành Nhân phụng mạng đi dẹp yên. Năm sau có tù trưởng ở Trà Vinh dấy loạn, ông với Đỗ Thành Nhân cùng bình định được.

Quý Mão 1783, ông đóng quân ở Thủ Thiêm, Tây Sơn tấn công. Ông sa cơ bị bắt. Chúng giam ông lại, dụ hàng. Ông ấm ớ cho qua buổi, nhủ lòng sẽ tìm cơ hội tháo cũi sổ lồng. Đã rắp tâm như thế, nên chẳng bao lâu ông trốn thoát, chiêu tập tàn binh hiệp với Nguyễn Văn Nhân kéo sang Xiêm La (nay là Thái Lan), vì chúa Nguyễn Ánh hiện lưu vong nơi đó. Giữa đường, gặp Ngô Công Quý, Lê Thượng, Nguyễn Tần phụng mạng chúa Nguyễn trở về do thám tình hình địch. Cùng nhau bàn định kế hoạch. Ông đưa ý kiến :

Quân địch đang lúc thắng sanh kiêu, không phòng bị. Chúng ta hãy cất quân đánh chiếm Long Xuyên (Cà Mau) 3 lại làm nơi căn cứ đóng quân, rồi một mặt cho người sang Vọng Các báo cáo với Nguyễn vương, một mặt mộ thêm quân để chuẩn bị tổng tấn công cho thắng lợi.

Các tướng đều tán thành. Ngay hôm ấy, ông kéo quân về đánh úp Cà Mau, bắt sống được tướng địch, chiếm lấy cả đồn lũy. Thành công, ông đóng quân tại đấy và sai thuộc tướng là Nguyễn Văn Nhân sang Vọng Các báo tin.

Nguyễn Vương bảo cùng Nguyễn Văn Nhân :

– Cà Mau là địa đầu đất Gia Định. Quân địch sẽ tranh lấy để có nơi dòm ra biển được, chớ chẳng không. Vả lại, đất ấy đường thủy không tiện, đường bộ cũng thiếu nẻo giao thông, việc hành binh tiến thoái đều khó. Họ Dương cùng các tướng chỉ một nhóm quân cô, thế yếu, lại ở vào nơi tuyệt địa, phỏng như quân địch xuất kỳ bất ý đánh ập đến, ắt là sẽ bị giết cả. Vậy, ngươi hãy lập tức cho dời thuyền ra các hải đảo xa để dò la tin tức địch xưm sao, rồi sẽ định liệu.

Nguyễn Văn Nhân nghe ra, vội vã trở về. Vừa đến nơi thì tướng Tây Sơn là Phạm Văn Tham kéo binh đến đánh. Đúng như sự dự đoán của chúa Nguyễn, Dương Công Trừng không gìn giữ, chết mất hai tướng là Nguyễn Tần và Lê Thượng.

Giữa lúc ông tìm đường trốn, bị Phạm Văn Tham cho quân đón bắt được, giải về bản dinh. Tham cười gằn, hỏi ông :

– Ngươi, trước đã khứng về hàng với ta, ta đãi ngươi không bạt bẽo gì, sao ngươi lại phản phúc thế nầy ?

Ông ung dung :

– Cực chẳng đã ngày trước ta ấm ớ cho qua cơn khốn, há chịu khuất thân phục vụ kẻ địch, trong khi chúa ta hãy còn kia sao ? Ta bỏ đi mới là hợp nghĩa. Nay lại sa cơ, đành chỉ còn một chết mà thôi.

Phạm Văn Tham cả giận, đem ông ra chém.

2. Ngô Công Quý : Tận Trung Giúp Chúa

Cũng như Dương Công Trừng, ông quê ở huyện Long Xuyên (Cà Mau) và một lòng theo phò chúa Nguyễn Ánh trong khi chúa bôn tẩu quanh vùng Bạc Liêu – Cà Mau.

Khi chúa Nguyễn chạy ra đảo Phú Quốc rồi sang Xiêm, ông theo hầu cận. Từ ấy, ông đóng vai gián điệp, thường lẻn về vùng Cà Mau, Vĩnh Long trà trộn trong quân cơ của địch để dọ thám. Ông và Nguyễn Tần, Lê Thượng rất giỏi về mặt thu nhặt tin tức địch, nhờ đó chúa Nguyễn dễ bề hoạch định chiến lược đối phó, dần dần đi đến thắng lợi.

Chẳng may khi Dương Công Trừng gặp ông và Lê Thượng, Nguyễn Tần từ Xiêm về dọ thám, cùng nhau kéo quân đánh chiếm lại vùng Cà Mau, chưa kịp tổ chức gì thì đã bị Tây Sơn phản công ; ông chạy thoát, Lê Thượng và Nguyễn Tần đều chết trận. Dương Công Trừng thì bị bắt chém. Thoát nguy, ông càng thận trọng hơn, phục vụ chúa Nguyễn rất đắc lực.

Kỷ vị 1799, ông giữ chức Trung thủy dinh Chánh hậu chi Hữu khâm sai, thuộc nội Cai cơ, quản thanh châu đạo. Bấy giờ lực lượng Tây Sơn ở trong Nam tan vỡ hầu hết, ông lại khéo tổ chức việc an ninh, bình định nhiều vùng, khiến dân chúng đều xưng phục công ơn.

Chúa Nguyễn càng ngày càng đem lòng tín nhiệm ông, giao cho ông hộ giá hoàng thái hậu.

Công lao của ông rất dày. Việc lớn mười phần đã xong đến tám, nhưng ông chưa kịp thấy ngày chúa Nguyễn lên ngôi hoàng đế, thống nhất san hà, thì đã bịnh mất. Chúa Nguyễn thương tiếc khôn cùng, truy tặng ông chức Chưởng cơ.

Đến năm Gia Long thứ 3 (Giáp Tí 1804) ông được liệt thờ vào miếu Hiển trung và miếu Trung hưng công thần.

3. Trần Phước Chất : Một Võ Tướng Theo Chơn Chúa Nguyễn

Ông giỏi võ không kém gì Dương Công Trừng, cùng nhau kết nghĩa anh em, thề đồng sanh tử. Khi họ Dương ra giúp chúa Nguyễn Ánh, ông cũng ứng nghĩa trợ lực.

Trong các cuộc đụng độ với Tây Sơn nơi Cà Mau, bao phen chúa Nguyễn thoát nguy, nhờ ở sự gan dạ và lòng trung thành của ông, quyết tử bảo vệ, nên chúa Nguyễn rất tin cẩn ông, thường lưu ở bên cạnh, bàn việc cơ mật.

Liệu cơ chưa thể dàn trận chống đối với Tây Sơn nổi, chúa Nguyễn chạy sang Xiêm, ngụ ở Vọng Các. Ông cũng theo chúa Nguyễn sống cuộc đời lưu vong, chờ ngày kéo về phục cừu huyết hận. Nơi nước người, ông vẫn lo rèn tập đám tàn binh, chiêu mộ thêm quân sĩ xung vào hàng ngũ.

Đến khi chúa Nguyễn đem binh từ Xiêm về, ông được phong Khâm sai Cai cơ. Nhưng số phận vắn vỏi, qua vài trận giao phong cùng Tây Sơn, ông bỏ mình trong trường xung sát.

4. Ngô Văn Lựu : Bách Chiến Bách Thắng

Ông cũng là người huyện Long Xuyên (Cà Mau), ứng mộ theo phò chúa Nguyễn Ánh trên bước đường chạy loạn Tây Sơn. Hơn mấy mươi trận đương đầu cùng Tây Sơn, với tinh thần quyết tử, ông từng làm cho binh tướng Tây Sơn khiếp đảm, những trận đánh ác liệt tại U Minh, Cái Nước v.v…

Khi chúa Nguyễn sang Xiêm, chính ông đã chỉ huy một toán quân đoạn hậu, từng đợt đẩy lùi quân địch, để chúa Nguyễn được an toàn. Rồi đó ông cũng theo qua Xiêm. Những ngày tháng ôm hận lưu trú ở Vọng Các, ông cùng bạn đồng hương là Trần Phước Chất lãnh nhiệm vụ tổ chức lại đội ngũ, tuyển mộ thêm binh sĩ để bổ sung lực lượng.

Canh Tí 1780, mùa hạ, ông giữ chức Cai đội. Toán quân do ông chỉ huy từ khi ở Xiêm về, nổi tiến thiện chiến, đánh đâu thắng đó.

Đang lúc chúa Nguyễn chuẩn bị ra đánh Phú Xuân, ông bỗng vương bịnh mà mất, không kịp thấy ngày đại định, giang san thống nhứt.

5. Nguyễn Hiền Năng : Tri Huyện Nổi Tiếng Thanh Liêm Mẫn Cán Lừng Danh “Thần Minh”

Đời Minh Mạng, viên tri huyện Long Xuyên (Cà Mau) là Nguyễn Hiền Năng rất được lòng dân chúng. Tánh ông cương trực, thanh liêm mẫn cán. Từ lúc ông đến trấn nhậm, bao nhiêu điều oan khúc tình tệ trong dân gian được ông minh chánh xét xử, nhân dân điều cám đức đội ơn ; mà bọn cường hào ác bá cùng đám gian thương, trộm cắp cũng đều khiếp oai phong, không còn dám lộng hành.

Bấy giờ, có một nhóm buôn lậu, người Mãn Thanh, hay chở hàng hóa lậu đi đường biển vô Cà Mau mua bán. Ông đốc xuất toán quân tuần chận bắt được, tịch thâu tàu buồm và tất cả tang vật. Chúng khẩn khoản xin dâng của lót trọng hậu, mong ông làm ngơ cho chúng, rồi sẽ còn đền ơn xứng đáng hơn nữa. Ông cương quyết bài trừ không dung tha.

Du đảng của chúng lấy làm căm giận, trù mưu trả thù báo oán. Thừa dịp, đám Huê kiều do Phủ Liêm cầm đầu gây loạn, vì phẫn uất vụ án cụ Tả quân Lê Văn Duyệt (xin xem ở phần thứ nhất đã có nói đến), bọn Mãn Thanh buôn lậu cho du đảng của chúng trà trộn vào. Chúng kéo thẳng đến dinh quan huyện.

Ông đang bịnh. Được tin Huê kiều gây biến, ông vừa toan sai cắt quân binh đi đánh dẹp thì chúng đã kéo ập vào dinh, mặt khác, chúng đã triệt hạ tất cả đám lính ở chung quanh để chiếm huyện.

Trong gia đình ông có 3 người vợ và 2 người con trai. Người con trưởng giỏi võ và người vợ thứ ba cũng can đảm có thừa, lập tức ngăn chống mãnh liệt. Nhưng than ôi ! “Mãnh hổ nan địch quần hồ, ít không sao cự nổi với một biển người bổ vây, sau khi đã chém giết khá nhiều, dần dần bà vợ ba và con trưởng của ông cũng đuối sức, đành thọ hại. Thừa thế, chúng tàn sát cả gia đình ông.

Về sau mới biết, tên cầm đầu đám du đảng Mãn Thanh buôn lậu vốn là người họ Quách. Từ ấy Huê kiều họ Quách ở Cà Mau không sao cư trú được trong vùng, nếu không tán gia bại sản đến nỗi phải bỏ đi chốn khác, thì cũng bị hộc máu chết mà thôi. Tình trạng ấy, khiến dân chúng lưu ý, rồi tiếng đồn vang xa, rằng ông hiển linh tru diệt kẻ gian manh tàn ác.

Quan tỉnh phái quan binh về dẹp loạn. Đâu đó đã yên, một ngày kia dân chúng bỗng xôn xao đồn tin ông đạp đồng lên, cho biết đã được Thượng đế phong tặng “Thần minh”.

Đám Huê kiều nhốn nháo khẩn cầu giác linh ông đừng giết các người họ Quách nữa, hằng năm sẽ cúng tế trả lễ, chẳng bao giờ dám quên. Ông nhận lời xin, và từ đó, họ Quách mới được ở yên làm ăn.

Mộ và miếu của ông ngày trước tại móng cầu Quây – Cà Mau bây giờ, đến năm 1941 mới dời mộ ông về gần đình thần An Xuyên (nay đổi tên là Tân Xuyên). Dân chúng chung nhau đóng góp xây cất ngôi miếu thờ ông phía trước mộ.

Hằng năm ngày rằm và ngày 16 tháng 2, lễ cúng tế rất trọng thể.

6. Nguyễn Văn Đức : Tiền Hiền Khai Ấp, Lập Xã Viên An

Xã Viên An trong quận Năm Căn là xã có một lịch sử đáng biết. Nhất là bậc tiền hiền đã mở mang thành lập xã, ấy là ông Nguyễn Văn Đức, thiết tưởng đáng được lưu danh muôn đời.

Ngày xưa, xã Viên An chỉ là một xóm nhỏ ở tại Cái Xép, có từ trước khi chúa Nguyễn Ánh chạy loạn đến đây. Bằng chứng là lúc chúa Nguyễn chạy đến mũi Cà Mau, vô trong ngọn rạch Xéo Lá đồn binh, hiện nay còn nền đồn là di tích cụ thể. Và binh lính của chúa Nguyễn đóng đồn tại rạch Cái Xép hiện cũng còn dấu vết : nơi đóng đồn ngày trước cây cỏ không mọc được.

Lúc Lê Văn Khôi, nghĩa tử của đức Tả quân Lê Văn Duyệt, nổi loạn chống Nam triều, chiếm xứ miền Nam (Quý Tỵ 1833), thì giặc Tàu Ô (người ta quen gọi là giặc Chà Và) thường hay đến miền duyên hải đánh cướp tiền của và bắt đàn bà con gái ; dân chúng phải chạy sâu vào nội địa cất nhà cửa ở đó trốn giặc.

Bấy giờ trong vùng có ông Nguyễn Văn Đức giỏi võ nghệ, độ lượng khoan dung, hào hiệp. Dân chúng lầm than điêu đứng vì lũ giặc khuấy rối, ông dễ đâu tha thứ cho phường hung bạo, bèn tổ hợp tráng đinh trong vùng đánh dẹp bảo vệ dân lành. Ông đuổi tan đám giặc tại rạch Đốc Neo (nay thuộc ấp Nhưng Miên).

Nhân dân tỏ lòng quyến luyến, xưng phục kính mến ông. Thấy thế, ông cảm động dốc lòng hy sinh cho dân chúng hơn nữa. Ông đứng ra đôn đốc việc khai hoang, mở mang không khí mới, thành lập xã Viên An, nghiễm nhiên là bậc tiền hiền, có công với nhân dân Viên An nói riêng, dân tộc nói chung. Vì từ sau ngày ông quy dân lập ấp, lập xã, ông cũng khéo tổ chức việc an ninh, trật tự, khiến đâu đều được êm đẹp, vui hòa.

Sau khi mất, ông được phong thần do sắc phong của vua Tự Đức. Cháu chắt của ông hiện giờ hãy còn tại ấp Cái Xép.

Xã Viên An lúc đầu tiên chỉ có hai ấp là Cái Xép và Ông Định, số nóc gia chẳng có bao nhiêu. Lần lần dân chúng các nơi kéo đến thêm đông, cất nhà cửa ở làm nghề hạ bạc và khai thác lâm sản. Cho tới ngày nay, xã Viên An được 10 ấp, dân số non năm ngàn người, quang cảnh thanh mậu, đời sống khá sung túc. Các vị bô lão trong vùng, mỗi khi nhắc đến vị tiền hiền Nguyễn Văn Đức đều chẳng tiếc lời ca tụng tài đức.

7. Tô Xuân : Vị Tu Sĩ Nổi Danh Ở Quan Âm Cổ Tự

Ông sanh trưởng tại Cà Mau. Từ thuở bé, đã có lòng mộ đạo. Đến tuổi thành nhân, dáng người ông nho nhã, tánh nết thuần hòa, lời ăn tiếng nói không nhiễm tục trần, nghe ra có vẻ tiên căn đạo tố.

Thân phụ ông định cầu hôn cho ông nơi danh gia thế phiệt. Nhưng ông đã phát tâm tu trì, không tưởng đến việc hồng trần thế sự, nên thưa cùng nghiêm thân xin hồi hôn, cho ông được tròn ước nguyện thí thân tầm đạo.

Thân phụ ông không nỡ túng ép chi con, đành chuẩn cho ông muốn thế nào tùy ý. Từ ấy ông xuất gia, cất một cái am nhỏ mà tu hành. Nơi cất am chính là chỗ nền chùa bây giờ.

Trên đường tầm đạo, ông vẫn để tóc chớ không cạo như các tăng sĩ, việc ăn mặc vẫn như thường dân, duy nâu sồng bô vải, cốt giữ lòng trong sạch, chân chánh là đủ.

Ơn trên gia hộ, dần dần ông phát huệ, cứu bịnh độ người thường có điều ứng nghiệm. Xa gần nghe tiếng, thiên hạ đến xin làm đệ tử của ông ngày một nhiều. Rồi đó thiện nam tín nữ cũng góp của, góp công, cất nên một ngôi chùa gọi là “Quan âm tự”.

Chẳng dè có người tên Đỗ Văn Viễn đem lòng ganh ghét, lên tận Gia Định mách với quan trên :

– Có người tên Tô Xuân, lâu nay ẩn vương nương Phật, chính thật là gian đạo sĩ, có phép sái đậu thành binh, toan mưu phản nghịch. Xin lịnh trên kíp cho quân lính xuống Cà Mau bắt tên đạo sĩ ấy cho chóng, kẻo sanh biến to.

Tin bằng lời, quan trên phái một vị lãnh binh dẫn quân đi hỏa tốc xuống Cà Mau.

Trong khi quân binh chưa đến, ông đã biết việc chẳng lành sẽ xảy ra, liền họp các tín đồ lại mà dặn bảo :

– Thầy sắp phải vương nạn lớn. Quân binh sẽ từ trên Gia Định xuống tận đây bắt thầy. Phận thầy, rồi chẳng sao cả, khuyên các đệ tử chớ để lòng lo lắng. Hãy siêng tu tâm dưỡng tánh, lòng ngay thẳng kính tưởng Phật, Trời rồi sẽ được tròn quả phúc.

Các tín đồ đều than khóc. Ông hết lời khuyên giải, đoạn khiến tín đồ phải lui gót, ở đâu thì về đó, cứ yên phận tu hành.

Đúng như lời ông đã thị kiến, không mấy ngày quân binh kéo đến chùa, bắt ông đem xuống thuyền, giải đi Sài Gòn. Mặc dầu có lời ông dặn bảo, các tín đồ hay tin đều động lòng, ùng ùng kéo xuống bờ sông, đứng trông vào thuyền chở ông mà than khóc.

Nhưng đã đến lúc ông dứt nợ trần ai : Ngày mùng 3 tháng 6 ông viên tịch tại chùa Kiêm Chương, không kịp thấy sứ triều đình đem sắc phong cho ông làm hòa thượng, được phép trụ trì chùa quan âm tại Cà Mau.

Linh cữu ông được chuyển về Cà Mau, an táng vào ngôi tháp hiện hãy còn.

Triều đình có truy tặng ông một cây gấm liệm xác, 2 cây tích trượng và một tấm bia.

8. Anh Em Họ Đỗ – Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự Oanh Liệt Chống Quân Pháp

Ngoài các danh nhân đã theo phò chúa Nguyễn Ánh, và một tu sĩ đã được vua Minh Mạng tưởng lệ đã kể trên, vùng Bạc Liêu – Cà Mau đến khi có gót sắt của quân đội Pháp xâm lăng vào đời Tự Đức, lại được vinh dự ghi tên hai anh em Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự.

Cuộc chinh phục của Pháp quân bắt đầu, Bạc Liêu, cũng như nhiều tỉnh khác của miền Nam, đã tỏ tinh thần bất khuất của dân tộc bằng những cuộc khởi nghĩa chống xâm lăng, đem xương máu viết nên trang hùng sử.

Ngọn cờ khởi nghĩa được dựng lên đầu tiên ở Cái Tàu, làng Khánh An. Hai chàng thanh niên đầy nhiệt huyết : Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự, con trai của vị võ cử nhân Đỗ Văn Nhân, đã đứng ra qui tụ nghĩa quân kháng chiến vào năm 1872.

Hùng khí có dư, hy sinh không thiếu, dần dần anh em họ Đỗ lập nhiều chiến công oanh liệt, khiến quân Pháp phải khiếp đảm. Dưới sự chỉ huy của anh em ông, nghĩa quân từng đoạt được cả súng đại bác của quân địch, mà đem bố trí tại vùng U Minh hạ, phản công lại rất hữu hiệu.

Nhưng trong tình thế đất nước đã dần dần bị thôn tính, thêm hạng xu mị dần dần cũng quá nhiều ngã theo ngọn cờ tam sắc, lực lượng kháng chiến của anh em họ Đỗ dẫu hùng mạnh đến thế nào, vẫn khó cứu vãn toàn thể đồng bào, lãnh thổ đã bị chà đạp dưới gót chân xâm lược !

Tuy nhiên, Anh hùng tử khí hùng nào tử ! Tinh thần Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự muôn năm hằng sáng chói tỉnh Bạc Liêu.

9. Nguyễn Thị Nương, Một Tiết Phụ Được Vua Thiệu Trị Tưởng Thưởng

Có hào kiệt, có anh hùng, có tu sĩ vang danh, Bạc Liêu há chẳng có phụ nữ đáng trọng vọng ?

Sách “Đại Nam nhất thống chí” phần ghi về lục tỉnh, huyện Long Xuyên (Cà Mau) vẫn có phụ nữ đáng kể. Ấy là Nguyễn Thị Nương.

Bà Nguyễn Thị Nương quê ở thôn Tân Mỹ, có chồng là Lý Văn Phước.

Dẫu là dân của xứ “quê mùa” như ca dao vẫn hằng rêu rao “Bạc Liêu là xứ quê mùa”, bà vẫn là người đoan trinh tiết liệt, một đức tánh cổ truyền của dân tộc Việt mấy ngàn năm văn hiến.

Một hôm, nhân khi đi cùng thuyền với người thân thuộc của chồng là Trần Văn Xung. Xung toan cưỡng bức, bà cương quyết không để thất tiết. Xung bóp cổ bà chết.

Quan địa phương dâng sớ tâu về triều. Năm Thiệu Trị thứ 3 (Quý Mão 1843) nhà vua truy tặng tiết phụ, tưởng thưởng cho tông tộc.

Chuyện vẫn là chuyện thường. Nhưng đầy ý nghĩa. Một Nguyễn Thị Nương đủ để tượng trưng tinh thần liệt nữ Bạc Liêu. Gương tốt đẹp đã có, tự nhiên trong toàn tỉnh còn có biết bao điều tốt đẹp. Sử sách dẫu ghi chép không có mấy, nhưng xuyên qua một Nguyễn Thị Nương, đủ minh chứng một xứ dẫu nổi tiếng “quê mùa” mà nhân dân chất phác, đầy tinh thần dũng cảm (Dương Công Trừng, Ngô Công Quý là tượng trưng), nghĩa khí (Nguyễn Văn Đức với công nghiệp dẹp loạn, khai hoang lập xã), tiết liệt đáng ngợi biết bao nhiêu.

Địa Danh, Giai Thoại Và Huyền Sử Đất Bạc Liêu Xưa

Địa Danh

Bạc Liêu là xứ quê mùa,

Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

Tác giả mở đầu phần Địa danh và huyền thoại của tỉnh Bạc Liêu bằng câu ca dao được truyền tụng rất lâu đời ở miền Nam Việt Nam, ấy là muốn cho những ai chưa biết Bạc Liêu hay chưa đến Bạc Liêu lần nào cũng hình dung được phần nào về đặc tính của địa phương nầy.

Nhưng Bạc Liêu có phải là xứ quê mùa không ? Về điểm này đối với ngày nay, khi ánh sáng văn minh đã tràn khắp tỉnh thành, làng xóm thì chuyện quê mùa kể như không thành vấn đề nữa. Nhưng trả Bạc Liêu về thời kỳ xa xưa, nghĩa là chừng nửa thế kỷ trước, thì Bạc Liêu vẫn đúng với hai chữ “quê mùa”. Vì thuở trước dân chúng Bạc Liêu từng sống với nghề nông và nghề biển, đời sống phần đông gắn liền với đồng quê.

Ai đã từng đi thăm ruộng lúa ở Bạc Liêu tất nhận thấy tỉnh Bạc Liêu xưa và nay quả là một vựa lúa nhỏ, trong cái vựa lúa lớn của miền Nam Việt Nam.

Tỉnh Bạc Liêu từng sản xuất ra nhà triệu phú Trần Trinh Trạch có lúc dám cho chánh phủ Pháp vay bạc, ấy cũng nhờ cái kho lúa mênh mông của tỉnh nhà.

Trên 30 năm trước đây, người ta thường nói đến các tay “công tử Bạc Liêu” như Dù Hột, cậu Ba Huy từng nổi tiếng như cồn là «Hắc công tử».

Như vậy Bạc Liêu, thời xưa tuy quê mùa, mà nay có phồn thịnh nhờ cái vựa lúa thiên nhiên của vùng đồng bằng trù phú. Các tay công tử Bạc Liêu xài tiền như nước, dám đốt giấy bạc để mồi xì-gà, dám lái máy bay đi thăm ruộng lúa.

Sự kiện này đã làm cho Bạc Liêu gây được một thời kỳ oanh liệt, ăn chơi suốt từ Nam chí Bắc, mỗi khi nghe danh “công tử Bạc Liêu” là thiên hạ phải thán phục về lối xài tiền đỏm dáng.

Nói về cá chốt ở Bạc Liêu, ai cũng công nhận rằng địa phương nầy có hằng hà sa số cá chốt, nó nhiều có thể nói là vô địch đối với các tỉnh từ Nam chí Bắc. Ai có đi tàu hay đi ghe trên sông Ba Thắc (thường gọi là sông Hậu Giang) hoặc sông Gành Hàu, muốn biết cá chốt nhiều hay ít, người ta cứ tiểu tiện đại trên sông, tức thì cá chốt nổi lên đặc ngàu lền sông, có người thấy chóng mặt hoặc không dám ăn cá chốt nữa.

Cá chốt Bạc Liêu đã nổi tiếng là nhiều vô địch không đâu bằng, nên rất dễ gợi cho người phương xa mỗi khi tới viếng Bạc Liêu trở về, đều không quên được cá chốt Bạc Liêu tức là sẽ nhớ mãi các đặc điểm khác lạ của địa phương nầy.

Bạc Liêu còn nổi danh là nhiều người Triều Châu. Người Tàu đến làm ăn sanh sống ở đây đã hơn một thế kỷ rồi. Nhưng trong số nầy người ta thường phân biệt người Triều Châu, người Hải Nam, người Quảng Đông v.v… đặc biệt chỉ có người Triều Châu là chiếm đa số. Họ nhiều đến đỗi thấy người Quảng Đông hay người Hải Nam, người ta cũng coi là người Triều Châu.

Ngôn ngữ thông dụng ở đây nhứt cũng là tiếng Tàu. Ai muốn làm ăn buôn bán tại Bạc Liêu ngày trước mà không biết tiếng Tiều hay không rành tiếng Tiều là điều thiệt thòi lớn. Mấy mươi năm trước, tới Bạc Liêu, người ta đã có cảm tưởng tỉnh Bạc Liêu là tỉnh đặc biệt của người Triều Châu, giống như ngày nay người ta coi Chợ Lớn là thành phố của người Tàu.

Ngày nay trải qua bao nhiêu biến cố của đất nước, Bạc Liêu đã sống vững và trưởng thành, nhưng trước nhứt Bạc Liêu không còn là xứ quê mùa như xưa nữa. Thứ đến, Bạc Liêu không còn là tỉnh thành của người Triều Châu, vì trước sự tiến hóa không ngừng của dân tộc Việt Nam, thành kiến cũ đã bị xóa tan : người Triều Châu không còn là đa số cũng không còn là giềng mối của mọi sanh hoạt hằng ngày.

Vĩnh Châu Là Gì ?

“Vĩnh Châu” có nghĩa là hạt châu tồn tại muôn đời, nói lên lòng trìu mến của nhân dân đối với vùng đất mến yêu.

Thông thường, người ta quen gọi Vĩnh Châu là quận Trà Nho, do từ “Chrui Nhor” của Cao Miên là tên một giống cây mọc nhiều ở vùng nầy. Tuy nhiên, chính người Miên cũng không đồng ý với nhau về ý nghĩa của hai tiếng Trà Nho. Theo một truyền thuyết khác, Trà Nho do hai tiếng Miên “Chrui Yor” có nghĩa là “Vịnh tử thần”. Vì ngày xưa ghe thuyền nào vô ý vào cập bến Vĩnh Châu, là người trên thuyền đều bị một hung thần vật hộc máu chết tươi ngay.

Theo truyền sử, Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu, có đóng quân ở Cồn Đầm (nay gọi là Cồn Nóc) thuộc quận Vĩnh Châu, đặt tên chỗ ở là Mỹ Thanh. Nơi đây, ngày nay còn di tích nền thành đồn trú, giếng nước, chùa và dòng Thư yết.

Hai Tiếng Giá Rai

Về danh từ quận Giá Rai thì thú vị hơn Vĩnh Châu nhiều, mộc mạc đến thành ngô nghê buồn cười.

Khoảng giữa thế kỷ 19, từ Bạc Liêu đến Cà Mau không có lộ và kinh thẳng. Sự giao thông liên lạc phải dùng các sông rạch thiên nhiên quanh co khúc khuỷu theo rạch Cái Hưu, Cây Gian, rạch Rắn, rạch Lộ Bẽ, trở ra nơi cách Hộ phòng chừng 800 thước. Khách qua lại thường gặp nhau tại khoảng rạch Cây Gian và rạch Rắn có xóm nhà xen lẫn với từng chòm cây Giá mọc lai rai. Họ hỏi nhau :

– Xóm gì đấy ?

Người đối thạo cũng mù tịt chẳng biết gì hơn, cười mà nói đùa :

– Thì là… xóm “Giá lai rai” chớ gì.

Lần hồi người ta quen gọi như vậy và lâu ngày gọi gọn lại là “Giá Rai”.

Đối lại, ở cách tỉnh lỵ chừng 4 cây số, có một xóm ở giữa vùng cây giá mọc um tùm, người ta gọi xóm nầy là xóm “Giá Râm” để đối lại với “Giá Rai”.

Năm Căn Từ Đâu Mà Có ?

Đến từ Năm Căn, kể ra cũng ngô nghê mộc mạc không kém gì giai thoại về “Giá Rai” trên đây.

Từ Năm Căn bắt đầu có từ năm 1092.

Lúc ấy vùng nầy chưa có nhà cửa xóm làng, chỉ có một thiểu số đồng bào làm nghề săn thú rừng và hạ bạc, ở rải rác các rạch xẻo mà thôi. Nơi vàm con rạch Tắt đi qua sông Bãi Háp, con đường duy nhất để đi Cà Mau, lúc sơ khai chỉ có một trại đáy vỏn vẹn cất năm căn. Kẻ qua người lại nơi rạch Tắt ấy hỏi nhau :

– Rạch gì ?

Kẻ đối thoại trông quang cảnh mà đáp phóng mạng :

– Rạch trại đáy Năm Căn.

Lâu ngày, dân tới ở thêm đông thành xóm, người ta gọi ngay là xóm Năm Căn. Và tên Năm Căn… đi vào lịch sử cho tới ngày nay.

Vâng, tên Năm Căn đáng được đi vào lịch sử tới nay vì nơi chốn sơn cùng thủy tận nầy, khoảng 1935, từng hân hạnh được viên thống đốc Nam Kỳ là Pagès đi kinh lý đấy. Và cũng chính Pagès cho nó và xã Viên An gồm lại, thành lập làm phân quận hành chánh, tùy thuộc quận Cà Mau ; nay thì đã nghiễm nhiên là quận, trong khi Cà Mau được lên hàng tỉnh.

Đồng Nọc Nạn

Đồng Nọc Nạn có thể nói là một địa danh rất nổi tiếng trên địa hạt kinh tế cũng như về mặt sanh hoạt nông thôn.

Dầu không ở tại Bạc Liêu, nhiều người cũng biết danh đồng Nọc Nạn. Cái tên khô khan và nôm na này không phải tự nhiên mà có, đồng Nọc Nạn cũng không phải vô cớ mà nổi danh, sự thật nó là một huyền thoại phát sanh gần một thế kỷ rồi mà bất luận người dân quê nào ở quận Giá Rai hay toàn tỉnh Bạc Liêu cũng đều biết rất rành mạch.

Vậy đồng Nọc Nạn được liệt vào địa danh của tỉnh Bạc Liêu hay của cả một miền Hậu Giang cũng không phải là quá đáng.

Đi thăm đồng Nọc Nạn không phải là việc khó lắm. Chúng ta cứ theo đường liên tỉnh nối thành phố Bạc Liêu với thị xã Cà Mau qua khỏi quận Giá Rai khoảng cách Bạc Liêu chừng 30 cây số ngàn, về phía tay phải, có một cánh đồng ngày nay trở nên mầu mỡ, phì nhiêu. Nơi đó, ngày nay cũng trở thành xóm vườn đông đúc dân quê, nối tiếp với những thôn xóm lân cận, đó là ấp Nọc Nạn thuộc xã Phong Thạnh, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Cái tên Nọc Nạn xuất phát từ chỗ trước kia nơi nầy là một vùng sình lầy rộng lớn đầy rừng tràm, choại, dớn, lau sậy chen chúc nhau mọc đầy, quanh năm chỉ còn có chim muông và rắng độc trú ẩn.

Vì sự sống hằng ngày, người dân quê đói khổ của vùng Phong Thạnh, Giá Rai phải chịu gian khổ, rủ nhau đem mồ hôi sức lực ra khai phá cánh đồng sình lầy.

Người dân quê đi khai hoang đến vùng nầy, muốn có chỗ che nắng che mưa, tránh rắn độc nên dựng lên những cái chòi. Bởi vì đất sình đất dớn không thể cất nhà như ở trên khô, người dân quê phải chặt cây làm nọc đóng xuống sình rồi gác nạn bên trên làm sàn để cất nhà lên đó.

Công việc thật là gian nan vất vả, người dân quê phải tốn không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt ; kiên gan từ tháng nầy đến năm nọ. Công việc kéo dài suốt chín, mười năm trường, mới lần hồi biến được vùng đất sình lầy, đầy choai dớn trở thành cánh đồng mầu mỡ gieo trồng được.

Nếu chỉ có như vậy thôi, thì cái tên đồng Nọc Nạn không thể trở thành một huyền thoại, tô đậm sự nhớ thương của mọi người, cũng như ấp Bình An, Phong Phú.

Như trải qua gần một thế kỷ nay, người miền Nam biết đến đồng Nọc Nạn nhiều, nhắc nhở đến đồng Nọc Nạn luôn, đó là do câu chuyện sau đây :

Vào khoảng 40 năm về trước, hồi đồng Nọc Nạn còn là bãi hoang, thì gia đình của ông cha một nông dân tên là Mười Chức, đã đi tiên phong đến khai hoang ở đây.

Trải nhiều cực khổ, ông cha của Mười Chức và đám dân quê mới biến đổi được đất sình thành ruộng lúa. Mọi người đang yên phận với cảnh sống chơn lấm tay bùn trên đồng Nọc Nạn, thì có một cường hào ở vùng Giá Rai, là một ông Phủ, đã lợi dụng thời cơ dựa vào thế lực của thực dân Pháp vào thời kỳ đó, bằng cách vận động đứng ra lập sổ để một Huê kiều tên Bang T đứng làm tấm bình phong, rồi xin đóng thuế với thực dân Pháp để cướp đoạt đất đai do công lao của dân quê tạo nên.

Sau đó, ông Phủ cùng tên Mã Ngân đem lính tráng vào đồng Nọc Nạn, tự tiện cắm trụ đá làm ranh đất, bắt hết thảy đám nông dân có công khai hoang phải ký giấy làm tá điền, mướn ruộng của tên Huê kiều này.

Cái lối cướp đất ngang ngược này lại được thực dân Pháp che chở và đồng lõa, nên ông Phủ 4 kể như chiếm được đồng Nọc Nạn rồi, hằng ngày ông cho lính tráng đi dọa nạt dân quê, ức hiếp phải làm theo ý muốn của mình.

Trong số người không chịu được sự áp chế của ông Phủ và những bất công của thực dân Pháp, có anh Mười Chức và một đám nông dân. Họ đã nổi lên dùng gậy gộc dao mác chống lại viên cò Pháp Tournier cùng đám lính mã tà, vì ăn tiền của ông Phủ mà biến thành tay sai, hằng ngày kéo vào đồng Nọc Nạn uy hiếp dân quê để góp lúa ruộng.

Ban đầu cuộc kháng cự của Mười Chức và đám nông dân còn yếu ớt vì họ chỉ muốn biểu lộ sự phẫn uất một cách ôn hòa cho viên cò Pháp rút lui. Nhưng thực dân Pháp và cường hào ác bá thời đó, thường ỷ vào sức mạnh của đồng tiền, của thế lực và võ khí, nên chẳng những họ không rút lui mà họ còn ra mặt đánh đập bắt bớ dân lành.

Mầm công phẫn nổi dậy đùng đùng, Mười Chức và đám dân quê liền đứng lên kháng cự quyết liệt.

Đồng Nọc Nạn nghiễm nhiên trở thành sân khấu của các cuộc đàn áp, đấu tranh đẫm máu. Kết quả, viên cò Pháp Tournier bị đâm chết, Mười Chức cũng bị bắn chết trong cuộc giao tranh, và nhiều người bị thương tích.

Tấn bi kịch không phải tới đó đã hạ màn. Hồi ấy, một viên thực dân bị đâm chết như vậy chẳng phải là một việc may cho dân chúng ; trái lại, là một tai họa tày trời đối với đám nông dân đồng Nọc Nạn ! Thực dân Pháp sai lính tráng đi ruồng bắt những người trong gia đình Mười Chức. Các người anh em của anh bị bắt bớ đánh đập tàn nhẫn và bị đày ra Côn Đảo.

Một số nông dân khác cũng đành cam chịu số phận lầm than nơi chốn ao tù ! Thế là cánh đồng Nọc Nạn lại rơi vào tay bọn cường hào ác bá.

Bây giờ đồng Nọc Nạn đã trở thành một địa danh ưu tú, một cánh đồng lịch sử, do công khai hoang lập ấp của dân quê, nhưng than ôi ! những bàn chân lấm tay bùn ấy lại bị quân cường hào dùng quyền lực cướp mất.

Ngày nay, nhắc đến đồng Nọc Nạn là gây sự xúc động và căm phẫn trong giới nhà nông, vì họ đã đổ biết bao mồ hôi, nước mắt để bồi đắp cho cánh đồng Nọc Nạn được phong phú như thế này.

Người đến Bạc Liêu, ít ai không đi thăm đồng Nọc Nạn.

Bài viết mới

Giai Thoại đất Bạc Liêu

“Công Tử Bạc Liêu” Do Đâu Mà Nổi Tiếng ?

Ba bốn mươi năm về trước, thuở tiền bạc đắt đỏ, lúa chỉ có 7, 8 cắc một giạ, tỉnh Bạc Liêu đã nổi tiếng là tỉnh giàu bậc nhất miền Nam, có lắm nhà triệu phú về ruộng lúa, ruộng muối. Ngay trong lúc kinh tế khủng hoảng lúa chỉ còn 0 đồng 25 một giạ, đến nỗi cụ Bùi Thế Mỹ tức nhà văn Lan Đình đã phải thốt mấy câu :

“Nghèo đến thằng mình còn chạy quýnh,

“Giàu như ông Trạch cũng buồn hiu !

Ông Trạch tức là nhà triệu phú Trần Trinh Trạch ở Bạc Liêu. Kinh tế khủng hoảng thì mặc kinh tế, các tay công tử Bạc Liêu vẫn cứ còn tiền xài “thả cửa”. Vâng, Bạc Liêu là tỉnh trù phú, dân cư đông đúc, chợ búa mua bán tấp nập, cũng là nơi nổi tiếng ăn xài, từng sản xuất các tay công tử năm mươi ngàn “đổ một trận cười như không”. Từ Nam chí Bắc đều nghe danh công tử Bạc Liêu một thuở nào.

Thời thực dân phong kiến cai trị, chúng buông thả cho dân chúng tha hồ chơi đủ thứ : hốt me, đá gà, tổ chức những hộp đêm buôn hương bán phấn v.v… Nhất là tỉnh giàu như Bạc Liêu thì dân chúng tha hồ hơn nữa. Có thể nói tứ đổ tường (bốn bức vách tửu, sắc, tài, khí) người Bạc Liêu phần đông đều vướng mắc, chẳng nhiều thì ít. Do đó, hạng con ông cháu cha sa ngã trong các mê hồn trận, được thời nổi danh “công tử” đệ nhất là “công tử Bạc Liêu” thì thôi, ai cũng ngán cái nước khuân tiền đổ sông đổ biển của họ.

Đây, thành tích ăn xài khét tiếng của các tay công tử Bạc Liêu hữu hạng :

Chính tại Bạc Liêu người nổi danh nổi tiếng “công tử số một” là Huỳnh Văn Phước kêu là xã Dù Hột (sau nầy là Ban biện Hột), con ông chủ Chá. Ăn xài tại tỉnh nhà phung phí có tiếng, là dân cậu, mỗi khi lên Sài Gòn – tất nhiên phải ăn xài hơn nữa – thì công tử nhà ta càng trổ ngón xài sao cho thiên hạ đều kính nể. Ở thì ở các khách sạn hạng sang như Continental, Majestic chẳng hạn. Ra đường, một mình đi chơi thì dùng đến năm ba chiếc xe kéo, chiếc chở nón, chiếc chở cây gậy (canne), chiếc chở cặp da, mắt kiếng v.v… Đánh bạc thì vô các nhà “xẹt” (cercle) lớn, dám đánh một cây bài đôi ba chục ngàn đồng bạc (nên biết là tiền bạc thuở lúa bảy tám cắc một giạ, thấy công tử Bạc Liêu xài tiền như nước ai ai cũng phải sợ.

Công tử Bạc Liêu đứng vào hàng số 2, sau Dù Hột (Huỳnh Văn Phước) kể trên, kế đó là ba anh em Trần Trinh Đình, Trần Trinh Huy 5. Trần Trinh Khương, con ông Hội đồng Trần Trinh Trạch. Gọi là số 2, vì đi sau “cậu” trước, kỳ thực về mức ăn xài lớn của cậu ba Huy chẳng nhượng gì Dù Hột. Cũng đởm dáng đủ điều, cũng phung phí huy hoát. Đến cái nước ganh đua với một tay công tử khác ở Mỹ Tho là Phước Georges, thì cậu ba Huy còn xài buông tay hơn nữa. Trong đêm tối, một bạn bè đánh rơi một vật chi nơi xó kẹt chăng ? Lập tức Phước Georges lấy giấy con công (giấy bạc 5$ thời trước) quẹt diêm đốt rọi cho bạn kiếm. Cậu ba Huy có mặt nơi đó há dễ chịu thua ? Thản nhiên như không, “cậu” móc ngay tấm giấy bộ lư (bạc 100$) hay gọi giấy “săng” (cent) đốt tiếp. Ấy là chuyện điển hình hai tay công tử Bạc Liêu và Mỹ Tho… tranh hùng một thuở chơi hoang. Và vì diện mạo của hai người, Phước Georges trắng trẻo, cậu Huy đen nám, thiên hạ đặt cho danh hiệu là Bạch công tử ở Tiền Giang và Hắc công tử ở Hậu Giang.

Tại Bạc Liêu còn có thêm hạng công tử ăn xài rất đúng cách và óc bảo thủ là Út Thượng, người nầy đã mất nhưng còn mang tên một con kinh trong điền kêu là kinh Út Thượng, tại điền của ông ngày nay.

Đại khái cái danh “công tử Bạc Liêu” là như thế. Mặc dầu vậy, chớ tưởng hàng công tử ở tỉnh muối đều là thứ ăn chơi. Bên cạnh hạng công tử Bạc Liêu (xài phá hoang phí) mà đời thường nhắc nhở với ý tiếc rẽ, hãy còn một hạng công tử Bạc Liêu đáng mặt hơn. Điển hình cho hạng sau nầy là Phan Kim Cân, tay công tử hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, hiện nay còn ở Bạc Liêu.

Đã là công tử Bạc Liêu, Ba Cân cũng thuộc hạng bảnh về mặt ăn xài, có điều Ba Cân chẳng khác một Đơn Hùng Tín thuở loạn Tùy sang Đường, hay đem tiền của trợ cấp cho những anh hùng hào kiệt còn thất cơ lỡ vận. Điểm đặc biệt của công tử Phan Kim Cân, là có mắt xanh nhận biết trang lỗi lạc siêu quần trong cơn phong vũ trần ai, sẵn sàng giúp đỡ cho. Nơi nhà Ba Cân thường nuôi giấu chí sĩ cách mạng. Chính Nguyễn An Ninh khi xuống Bạc Liêu đã được Ba Cân tỏ ra trọng đãi vô cùng.

Xuyên qua hai công tử Bạc Liêu mà chúng tôi đề cập ở bài nầy, hẳn ai cũng nhận thấy cả về hai hạng ăn chơi vị kỷ và hoang phí có ý vị tha – phương diện nào công tử Bạc Liêu vẫn khác thường thiên hạ. Bởi lẽ khác thường ấy, cái danh xưng “công tử Bạc Liêu” tự nó đã hội đủ yếu tố để đáng được… ghi vào lịch sử nhỉ ?

Điều nên biết thêm, cả hai hạng công tử Bạc Liêu ấy, dẫu sao cũng danh chấn nhất thời mà thôi. Ngày nay gia đình xã Dù Hột (điển hình giới ăn chơi) và Ba Cân (điển hình giới hào hiệp trọng nghĩa khinh tài) đều đã sa sút nghèo nàn. Dù Hột nay đã mất nhưng còn người chị là cô Hai Ngó đã chán chê cảnh phù hoa, gột rữa trần tâm phần nào mà hướng về nẻo Đạo có lập một cảnh chùa tại Bạc Liêu, người sau là cậu Ba Cân còn sống phong thái vẫn ung dung trong cảnh nhà cửa suy sụp, nhưng tên tuổi vẫn còn để cho người đời nhắc nhở. Âu cũng là bài học hay cho đời noi gương, xem đó tu tâm luyện tánh.

Tạo nghiệp đã đành là phải trả cho xong nghiệp quả. Nghiệp trần ai mang nặng nhiều tội lỗi sa đọa, còn kịp có ngày giờ ăn năn sám hối thì hãy còn làm lại cuộc đời tốt đẹp được. Và vương mang nghiệp hào hoa mà còn biết xét nét qua dĩ vãng trong hành vi cử động của mình, còn biết có lúc phải làm đôi điều phải đạo, phải lẽ, dẫu mai sau thất vận, nợ trần ai tay trắng trả vay hoàn tay trắng, hãy còn đôi chút an ủi chuỗi ngày tàn vậy.

Nói đến đất Bạc Liêu mà không đề cập đến các tay công tử thời ấy là một điều thiếu sót, chúng tôi chỉ sơ lược qua vài nét của hai hạng công tử đã nói trên, còn sự phê phán xin nhường cho độc giả, tác phẩm thuộc về loại sưu khảo qua nhiều khía cạnh vì lẽ đó nên không thể đi sâu chi tiết về hành động của một cá nhơn nào, xin bạn đọc thông cảm cho.

Học tiếng Anh với nhóm dịch thuật Lightway

Chuyện Bà Mụ Trời Đỡ Sanh Cho Cọp Tại Rừng Cà Mau

Ngày nay tại tỉnh Cà Mau, hầu hết đồng bào ở đây còn truyền tụng câu truyện bà Mụ Trời làm một việc bất đắc dĩ, mà cũng là một việc hy hữu, tức là hộ sanh cho cọp.

Cách gần đây một thế kỷ (100 năm) Cà Mau là một vùng đất phù sa sình lầy, gần như hoang vu. Dân cư thưa thớt, nhưng có nhiều thú dữ như cọp, có nhiều loại có nọc độc như trăn, rắn mái gầm, và rắn hổ v.v… còn muỗi thì nhiều vô số kể ăn cơm phải giăng mùng đốt ung thì mới có thể ngồi ăn được.

Vào thời đó, tại Rạch Bàn, thuộc quận Cái Nước bây giờ, có một bà rất nhơn đức, tên là Trần Thị Hoa, tục gọi là Bà mụ Tư, làm nghề hộ sanh. Thuở ấy hộ sanh là một việc làm phước, không ai chịu lấy tiền công đức, bởi vậy dân chúng thường tặng các bà hộ sanh là mẹ sanh.

Thường lệ nơi đây, hễ mặt trời lặn thì ai ở nhà nấy, rồi cửa đóng then gài. Vì thú dữ quá nhiều, nên họ sợ…

Một bữa nọ vì phải giúp một sản phụ khó sanh, nên Bà mụ Tư về muộn. Chủ nhà phải mướn bốn người trai tráng đưa bà. Về gần tới nhà, bỗng nghe tiếng cọp hộc rất lớn làm mọi người hốt hoảng, tay chân bủn rủn, người ướt trong quần. Khi hoàn hồn bốn tráng đinh thấy mất Bà mụ Tư thì quả quyết bà bị ông thầy bắt ăn thịt. Vào thời ấy dân chúng rất sợ cọp, sợ hãi đến nỗi không dám gọi đích danh ông hổ hay ông cọp mà phải kính cẩn gọi là ông thầy, có nơi còn lập miếu thờ cọp, nên bốn tráng đinh tất tả chạy về làng đánh mỏ và thùng thiếc báo động. Dân làng được tin cọp loạn rừng, cùng nhau mang dao rựa cung nỏ đi ruồng kiếm, nhưng vô hiệu quả.

Rạng ngày dân làng tiếp tục đi tìm dấu cọp. Họ tiến gần đến nhà Bà mụ Tư thì thấy dấu chưn cọp, còn ràng ràng trên mặt đất. Quanh nhà bà cũng thấy có dấu chưn cọp, chứng tỏ hồi chiều hôm qua cọp có đến rình nhà bà. Thấy cửa hé mở, dân làng xô cửa bước vào, họ thấy một người hình dạng giống bà mụ Tư đang nằm trên giường day mặt vô vách.

Nghe tiếng động bà mụ Tư giựt mình ngó ra ngoài. Quả thật là bà mụ Tư. Ban đầu dân làng ngỡ là ma hiện hình, nhưng sau khi nghe bà lên tiếng thì họ mới hết sợ.

Một trong bốn tráng đinh đã đưa bà về nhà chiều hôm qua đánh bạo lên tiếng : “Rõ ràng chiều hôm qua, chính mắt tôi trông thấy bà bị ông thầy bắt. Nhưng sao bây giờ bà còn sống ngồi ở đây ? Phải chăng bà là ma hiện hồn ? Chúng tôi vái hồn bà có linh thiêng, xin đừng về đây quấy nhiễu, dân làng chúng tôi sẽ lập miếu thờ bà.”

Bà mụ Tư cười đáp :

– Nào tôi có chết chóc gì đâu mà đòi lập miếu thờ… Thật ra, tôi bị ông thầy bắt… nhưng câu chuyện còn dài, mấy chú ngồi chơi, chờ tôi rửa mặt mày một chút bớt mệt, tôi sẽ kể chuyện lại cho mấy chú nghe.

Rửa mặt xong, bà ngồi lại kể chuyện : “Chiều hôm qua tôi đi đỡ đẻ ở xóm trên rồi trở về, còn chừng hơn mười sải nữa tới nhà, thình lình tôi nghe tiếng ông thầy hộc lên dữ dội, liền đó tôi bị lấn ngã, hồn vía tôi lên mây, tôi bất tỉnh nhân sự không hay biết gì hết… Rồi tôi cảm thấy mặt tôi ươn ướt, bên tai tôi nghe tiếng rên, rồi thì tiếng gà rừng gáy vang. Mở mắt ra tôi thấy nằm dưới đất gần bên bà thầy (cọp cái) đang chuyển bụng có vẻ đau đớn lắm và coi mòi khó sanh. Lúc ấy không biết tại sao tôi hết sợ hãi. Tôi chỉ thấy có bổn phận tận tụy đỡ sanh. Dưới bóng trăng khuya, tôi dùng phương pháp đỡ đẻ cho người, mà giúp đỡ bà thầy hạ sanh hai con được khỏe mạnh. Sanh xong “ông thầy” liếm tay tôi cho sạch huyết dơ rồi tha tôi về đây. Mệt quá tôi để y nguyên quần áo như vầy mà ngủ thì mấy chú vô nhà làm tôi thức giấc.

Mọi người nghe bà mụ Tư thuật chuyện xong, thảy đều vui mừng khen ngợi bà ăn ở có đức lớn, nên Trời Phật độ mạng.

Bà nói :

– Nhờ trời mà tôi thoát chết, nên mai này tôi sẽ cúng heo để trả lễ Trời Phật, luôn dịp mời bà con đến chia vui với tôi.

Sáng hôm sau, vừa mở cửa bà mụ Tư thấy một con heo rừng lớn nằm ngay trước cửa. Bà hoảng hốt, nhưng xem kỹ thì thấy con heo rừng này đã bị cọp móc họng vừa mới chết.

Xóm làng hay được tin nầy đều bảo rằng đó là ông thầy đền ơn bà mụ. Bà nhờ lối xóm giúp tay ngã heo rừng cúng Trời Phật và đãi xóm làng. Mọi người không ngớt miệng khen ngợi bà là con Trời nên mới dám đỡ đẻ cho “bà thầy” từ đó về sau ai nấy đều gọi bà mụ Tư là Bà mụ Trời.

Thỉnh thoảng Hổ cũng mang biếu bà mụ Trời một vài con thịt rừng cho đến khi bà mãn phần.

Hiện nay đồng bào vùng Bạc Liêu – Cà Mau còn truyền tụng bà mụ Trời là do tích hộ sanh cho hổ cái.

Bài viết này được tổng hợp và đăng tải bởi Nhóm dịch thuật Lightway. Nhóm chuyên nhận dịch thuật các tài liệu tác phẩm văn học, dịch thuật tài liệu lịch sử, văn hóa

Miếu Bà Cố Linh Thiêng Với Quan Chánh Tham Biện Người Pháp

Tại Bạc Liêu (Vĩnh Lợi) ngày nay ai đến bến xe đò, gần nhà đèn đều trông thấy một ngôi cổ miếu, vách gạch lợp ngói âm dương rộng độ 20 thước vuông, dựng tại gốc cây đa cổ thụ cành lá sum sê ngả ngọn de tàn bao trùm trên nóc miếu mát rượi cả ngày, gốc rễ mộc ra chằng chịt thân cây ba bốn người ôm mới giáp. Ngôi miếu này do vị tham biện người Pháp tên Boudineau trùng tu lại cách nay trên 60 năm để thờ Thất Thánh nương nương, đồng bào ở đây thường quen gọi là Miếu Bà Cố. Trước kia miếu Bà nằm trong phần đất của tòa Tỉnh trưởng, cách dinh ông chánh chừng 200 thước.

Hiện thời vào những ngày sóc vọng, đồng bào bá tánh tụ họp để đốt nén tâm hương chiêm ngưỡng thành kính sự anh linh của bà, khói hương nghi ngút, đôi bạch lạp sang rỡ trước linh bàn như vầng nhựt nguyệt.

Nhưng, cũng như tất cả những gì do bàn tay con người xây dựng ngôi cổ miếu nầy non một thế kỷ bền gan chịu đựng sự tàn phá của mưa nắng gió sương. Đứng trước cảnh rêu phong ngói đổ, vách lở tường long, chúng ta cảm thấy tấc dạ bùi ngùi mà hồi tưởng những truyện linh thiêng hiển hách, do các bô lão địa phương thuật lại.

Xưa kia miếu nầy có một sự tích hết sức ly kỳ, mãi đến ngày nay dân chúng còn truyền tụng.

Vào thời Pháp thuộc, cách đây hơn 70 năm, gần dinh quan Tỉnh trưởng tức là dinh ông Chánh tham biện, gọi tắt là dinh ông Chánh, có một cây đa to, cành lá xanh tươi. Tại gốc đại thọ nầy có dựng một cái trang nhỏ, lợp bằng lá dừa nước, để thờ cốt bà. Nơi đây ngày đêm hương khói nghi ngút. Dân chúng địa phương rất tin tưởng oai linh cốt bà, nên mỗi khi đi ngang qua miếu, người người đều phải lột khăn nón xá bà, không ai dám thất lễ.

Ít lâu sau, ông Chánh tham biện tức là chủ tỉnh Bạc Liêu, nhận được nghị định quan Thống đốc Nam kỳ, dạy mở rộng địa thế tòa tỉnh trưởng và xây cất dinh chủ tỉnh lại bằng gạch để thay thế dinh cũ. Vì nới rộng đất tòa tỉnh trưởng, thành thử miếu bà nằm trong phần đất thuộc phạm vi của dinh chủ tỉnh xa độ hai công đất.

Tánh người Pháp không muốn có đình miếu cất trong đất ông Chánh, nên gởi trát cho quận phải triệt hạ miếu bà và đốn cây đa. Quan chủ quận được lệnh đem dân đến đốn nhưng không ai dám phạm búa vào cây đa linh thiêng nầy cả. Ông quận bèn trình lên quan chánh tham biện Pháp đến thị chứng. Ông nầy đến tận miếu buộc phải đốn cây đa tức khắc. Dân làng sợ quá mới bẩm :

– Bẩm quan lớn, chúng tôi không dám phạm đến oai linh của bà, nếu quan lớn muốn đốn cây đa nầy thì xin quan lớn cầm búa chém vào cây đa ba búa trước, thì dân làng chúng tôi mới dám tiếp tục đốn ngã cây đa.

Ông chánh thấy dân chúng quá tin tưởng dị đoan, thừa dịp nầy ngài muốn làm cho dân chúng bớt mê tín, nên mạnh dạn huơ búa định chém vào cây. Bất thần, trong đám dân làng có một người nhập cốt xưng danh Thất Thánh nương nương, dõng dạc bảo thẳng với chánh tham biện Pháp :

– Ta nói cho nhà ngươi rõ. Nếu ngươi ngang nhiên đốn phá chỗ của ta ở, thì ta sẽ vật mấy đứa con trai của ngươi chết liền trước mắt !

Nói xong thăng ngay. Quan chánh tham biện nổi xung, chém mạnh vào cây đa một nhát búa, song chưa kịp rút ra thì thấy tên bồi giúp việc nhà cho ông sợ hãi chạy tới cấp báo với ông rằng : Mấy đứa con trai nhỏ của ông là cậu Rọt, cậu Chel, câu Jacque đang ngồi chơi bỗng nhiên hộc máu và bất tỉnh.

Ông nghe nói hốt hoảng cấp tốc trở về dinh và cho mời liền bác sĩ đến điều trị. Bác sĩ xem mạch khám bịnh bảo là các em bị té nặng động phổi và cho uống thuốc cầm máu nhưng vô hiệu quả. Cả nhà còn đang lo sợ, lúc ấy có ông chủ quận Trương Công Lành bảo nhỏ với bà chánh tham biện : chắc có lẽ lúc nãy quan lớn khắc búa vào cây đa miếu bà nên bị bà quở hành mấy cậu. Vậy bà lớn nói với quan lớn vái tạ miếu bà thì chắc các cậu mạnh liền. Bà chánh nói lại với ông chánh và có ý phiền trách hành vi của chồng vừa rồi, việc làm đã không có lợi mà còn thêm hại cho con. Bà khuyên chồng mau mau lại miếu bà vái xin lỗi lạy tạ. Ông chánh nghe qua bán tính bán nghi, tuy nhiên phần thì thương con, phần nể vợ, nên chịu ra miếu bà. Ông khấn vái : “Nếu bà linh thiêng xin cho con tôi khỏe mạnh, tôi sẽ cất miếu lại cho bà.” Vái rồi ông về đến dinh thì thấy mấy đứa con ngồi chơi như thường. Cả nhà ông chánh đều vui mừng. Liền đó ông thâu hồi lệnh triệt hạ miếu bà và cây đa, rồi xuất tiền riêng mướn dân làng xây cất miếu lại bằng gạch lợp ngói rất đẹp và nới rộng rãi hơn xưa.

Từ đó ông chánh bà chánh hết lòng tin tưởng sự huyền bí của bà, ông bèn ra lịnh chuyền đèn điện vào miếu đốt sáng đêm, trước điện thờ bà không để cho tối, sự linh hiển của bà vẫn liên tục đến nay, đồng bào liên tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ mỗi khi đến xin xâm cầu nguyện, được bà mách bảo sự kiết hung rất linh ứng, còn những kẻ ngang ngược khinh khi ngạo nghễ bà sẽ hành cho thấy trước mắt.

Trước tòa cổ miếu có một tấm biển sơn son thếp vàng viết trên hiên bằng chữ Hán như sau : Thất Thánh Chí Linh Chơn Truyền Cổ Miếu

Và hai bên cột có hai câu đối, chúng tôi mạn phép xin ghi nguyên văn :

Thánh Đức Từ Bi Thông Diệu Pháp

Thần Linh Phổ Độ Vạn Thiên Cơ

Sau khi ghi chép đầy đủ về sự tích miếu Bà, lòng tôi nao nao, cảm thấy hình như còn thiếu sót một cái gì, nên có cảm tác những vầng thơ dưới đây :

Cảm Tác

Một giai thoại, nghe qua càng hào hứng
Đề cao câu nên kính Thánh trọng Thần
Ngôi cổ miếu, địa phương đều tôn kính
Bài học hay, cho tham biện Pháp triều.

Để chứng minh, oai linh thiêng Thần Thánh
Cõi hữu hình, đồng nhứt với vô vi
Trơ với non sông tàn cây cổ thụ
Đêm trăng về, tô đậm nét huyền linh.

Ve dế gáy, kết tinh thành nhạc điệu
Gió vờn bay, lá đổ lạnh tê rờn !
Cặp rắn thần 6, như đến ngay chầu chực
Bóng đèn khuya lả ngọn xé màn đêm,

Chiều về đến, ánh tà dương lổ đổ
Khói hương trầm nghi ngút quyện không gian
Khúc phim đời, chớp nhoáng tuân lệnh gió
Như bức tranh, sống đẹp nét huy hoàng.

Linh Thượng Đế vạn năng quyền tối thượng
Linh Thánh Thần làm tiêu biểu nhơn gian
Để đồ đậm câu “Hữu cầu tất ứng”
Miếu có Bà, chùa điện có Phật Trời.

Kinh Cạnh ĐềnẤp Cạnh Đền

Đâu xa bằng xứ Cạnh Đền

Muỗi kêu như sáo thổi,

Đỉa lền như bánh canh.

(Ca dao)

Từ hơn một thế kỷ nay, nhân dân trong tỉnh Bạc Liêu đã truyền khẩu từ người nọ sang người kia câu ca dao trên đây.

Sự thật, câu ca dao nầy không phải tự nhiên mà có, cũng không phải người ta thêu dệt ra để nghe chơi, mà nó đã xuất phát từ một huyền thoại để làm sống mãi cái di tích lịch sử nầy.

Cạnh Đền ở đâu ? Đó là một địa danh thuộc vùng U Minh với rừng tràm bao bọc, màu nước đỏ ngầu, ứ đọng quanh năm, thuộc xã Ninh thạnh Lợi quận Phước Long (Bạc Liêu).

Ngược dòng lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc của Cạnh Đền thì chúng ta được biết, vùng đất nầy trước thế kỷ 17 thuộc về người Thủy chân Lạp. Cho nên mãi tới ngày nay vẫn có một số người Thủy chân Lạp sống trong vùng nầy với tập quán, cổ tục riêng của họ, và họ sanh sống bằng nghề làm ruộng, giăng câu, bứt khoai, đốn củi v.v…

Ngay sau cuộc Nam tiến của người Việt Nam dừng lại ở thị trấn Hà Tiên thì người Việt từ miền Tiền Giang đã vượt qua sông Hậu đến khai hoang trong vùng U Minh nầy.

Vì là vùng rừng rú, nước đọng quanh năm nên muỗi mồng, đĩa vắt sanh sôi nẩy nổi rất nhiều, hằng hà sa số, đến đỗi người dân quê phải biết sợ. Còn người phương xa mà tới đây thấy muỗi Bạc Liêu, thảy đều ngán ngược. Thiên hạ đã dùng ca dao để diễn tả “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh như bánh canh thì ta đủ hiểu muỗi và đĩa ở ở Cạnh Đền nhiều đến thế nào.

Tại đây, ngoài nghề khai hoang, làm ruộng, người nông dân còn sống với nghề bắt cá, giăng câu, vô rừng đốn củi làm tan, bứt dây choại dùng làm sản phẩm để mua bán, trao đổi với nhân dân vùng phụ cận.

Ai có ở Bạc Liêu đều biết rõ Cạnh Đền, ai ở Hậu Giang cũng đều nghe nói tới Cạnh Đền. Cạnh Đền đã thành một địa danh nổi tiếng của tỉnh Bạc Liêu.

Trở về nguồn gốc, cái tên Cạnh Đền được khai sanh vào thế kỷ 18, nó xuất hiện trên bước đường bôn tẩu của vua Gia Long.

Năm 1783, lúc Nguyễn vương bị quân Tây Sơn truy nã ráo riết, ngài phải đem Vương mẫu và cung quyến chạy trốn đến vùng U Minh.

Lúc bấy giờ trong đám cung quyến theo Nguyễn vương đi tị nạn trong vùng rừng sâu nước độc, có công chúa Ngọc Hạnh. Công chúa là phận liễu yếu đào tơ, không quen với phong sương mưa nắng, vùng U Minh lại lắm muỗi mòng, khí độc, nên công chúa không chịu nổi cảnh sống gian lao vất vả, vướng nhằm bịnh thương hàn.

Thầy thuốc của Nguyễn vương dẫu giỏi, nhưng không có thuốc để trị bịnh thương hàn, thành ra sau bốn hôm lâm trọng bịnh, công chúa Ngọc Hạnh nhắm mắt lìa đời.

Vương mẫu và Nguyễn vương vô cùng thương tiếc, nên sau khi an táng công chúa ở giữa rừng, Nguyễn vương truyền cho quan quân dựng đền thờ công chúa, tục gọi là Cạnh Đền.

Danh từ Cạnh Đền, bắt đầu được lưu truyền từ đó.

Trong thời Pháp thuộc, thực dân mở cuộc khai hoang ở vùng U Minh có dùng xáng đào một con kinh để nối liền chợ Hộc, thuộc xã Tân Phú với sông Bà Ai, thuộc xã Ninh Thạnh Lợi.

Con kinh nầy có đoạn băng ngang Cạnh Đền, người dân địa phương quen gọi là “Kinh Cạnh Đền”.

Ngày nay ai đi qua Kinh Cạnh Đền, đều nhìn thấy di tích ngôi đền thờ công chúa Ngọc Hạnh hãy còn đứng vững với phong sương.

Người ta còn tìm thấy xác chiếc ghe hồi Nguyễn vương dùng để lánh nạn quân Tây Sơn, hãy còn nằm ở kế Cạnh Đền.

Trong 80 năm dưới thời Pháp thuộc, vùng đất phì nhiêu nầy đã sản xuất ra nhiều thổ sản, như lúa, khoai, cá, khóm, choại. Lúc đó, vùng Cạnh Đền trở thành đồn điền khai thác lâm sản của công ty Cressier.

Năm 1945, sau ngày miền Nam vùng lên kháng chiến chống Pháp, vùng Cạnh Đền lọt vào tay dân địa phương. Họ đã biến nơi nầy thành căn cứ vững chắc của chiến khu miền Tây.

Tìm hiểu về các thành ngữ tiếng Anh

Kinh Chắc Băng Với Nguyễn Ánh

Tỉnh Bạc Liêu Cà Mau có rất nhiều sông rạch. Bạc Liêu cũng là nơi lưu lại rất nhiều di tích và huyền thoại của vua Gia Long, trong lúc bôn tẩu ngược xuôi.

Từ Ao Ngự, ấp Giá Ngự đến Cạnh Đền chúng ta đã thấy những địa danh nầy đều là những nơi đã vang bóng vua Gia Long. Trong thời gian tẩu quốc miền tây Nam Việt nên ngài có cho rằng : Nam thuận Bắc nghịch 7.

Miền Nam quả là đất vua Gia Long dung thân để liên kết với nước Xiêm La, và cầu cứu với Pháp quốc, do sự trung gian của ông Bá Đa Lộc. Lúc bấy giờ ông Bá Đa Lộc đang ở tại đất Chân Bun (Xiêm La). Nguyễn vương liền phái người tâm phúc đến cầu cứu. Ông Bá Đa Lộc bèn giúp ý kiến là Nguyễn vương phải cho Hoàng tử Cảnh đi với ông qua Pháp mới được.

Nguyễn vương liền giao Hoàng tử Cảnh và quốc ấn cho ông Bá Đa Lộc, lại làm quốc thơ xin giúp cho binh sĩ, súng đạn để đánh Tây Sơn (năm 1783).

Ông Bá Đa Lộc đem hoàng tử Cảnh đi Tây, rồi Nguyễn vương lại cùng cung quyến và quan quân trở về xã Vĩnh Thuận, quận Phước Long (Bạc Liêu) để nương náu tại đây. Vì nơi đây gần đảo Phú Quốc và vịnh Xiêm La, nếu quân Tây Sơn kéo tới đánh bắt, Nguyễn vương sẽ thuận đường chạy trốn.

Nơi chốn Nguyễn vương nương náu là một vùng đất còn hoang vắng, thưa thớt dân cư, nằm dài trên một con kinh nối liền với sông Trèm Trẹm và sông Cái Lớn, thuộc quận Gò Quao (Rạch Giá).

Con kinh nầy là một thủy lộ tiện lợi nhứt giữa hai vùng U Minh Cà Mau và U Minh Rạch Giá (U Minh thượng và U Minh hạ) rồi thông thương đến Ô Môn (Cần Thơ).

Tìm hiểu thêm

Di Tích – Thắng Cảnh – Cổ Tục tại Bạc Liêu

Di Tích Lịch Sử : Bạc Liêu Với Vua Gia Long

Tỉnh Bạc Liêu, vì tương đối mới thành lập sau theo số thứ tự là tỉnh 20 hồi trào Pháp có một ít di tích lịch sử. Tuy nhiên, rải rác từ thời chúa Nguyễn Ánh chạy vào đàng trong tức miền Nam, Việt Nam ngày nay, xuống tận Bạc Liêu, Cà Mau hãy còn nhiều di tích đáng kể. Rồi về sau, theo gót đoàn người Việt dần dần Nam tiến, do chính sách tàm thực của Nguyễn Cư Trinh mở màn từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (Võ vương) và do kế hoạch đồn điền, khai hoang lập ấp của Nguyễn Tri Phương trong đời vua Tự Đức (Dực Tông), mà hình thành miền Nam trù phú. Bạc Liêu cũng như các tỉnh khác vẫn có nhiều di tích đánh dấu khoảng 200 năm lịch sử đã qua.

1) Đồn Binh Trên Cửa Sông Mỹ Thanh Và Ngôi Mộ Của Một Công Nương Nhà Nguyễn Nơi Làng Tân Khánh

Ngược dòng lịch sử, Bạc Liêu là tỉnh khá nhiều duyên nợ với chúa Nguyễn Ánh – người sáng lập triều Nguyễn với bao nhiêu thăng trầm, công và tội với quốc gia dân tộc ?

Bị quân Tây Sơn đánh bại, trên đường bôn tẩu, Nguyễn Ánh phải một phen tìm sinh lộ ở Bạc Liêu. Do ngả sông Ông Đốc, Nguyễn Ánh cùng đoàn chiến thuyền bại trận đã chạy vào ẩn náu một thời gian khá lâu trên bán đảo Cà Mau (nên lưu ý rằng Cà Mau ngày trước là một quận của tỉnh Bạc Liêu. Chúng tôi đã phụ biên ở phần thứ nhứt).

Trên cửa sông Mỹ Thanh, một đồn binh được thiết lập khi chúa Nguyễn Ánh lánh nạn ở Cồn Đầm. Đồn binh nầy ngày nay chỉ còn lại một khuôn thành sập đổ, cây cỏ phủ đầy tại Xâm Pha. Chính lúc đến đây, một vị công nương của chúa Nguyễn chịu không thấu nỗi gian lao, đã từ giã cuộc đời giữa đường bôn tẩu. Hài cốt vị công nương vùi chôn nơi làng Tần Khánh.

Địch quân kéo đến tấn công. Bị bắt buộc phải bôn đào nữa, Nguyễn Ánh giao ngôi mộ vị công nương lại cho một người Hoa kiều tên Yết trông nom.

Về sau, hết cơn bĩ cực tới hồi thống nhất được giang san lên ngôi hoàng đế, Gia Long nhớ ơn xưa ban thưởng cho chú Yết rất trọng hậu. Chú Yết được phong làm tri phủ, được quyền thu hưởng hoa lợi tất cả các cơ sở đánh cá dọc dài theo bờ Nam hải, giữa khoảng vàm Mỹ Thanh và cửa Hoành Tẩu, tên phủ Yết được đặt cho các giống nơi chú Yết ở lúc sinh tiền.

2) Sông Ông Đốc : đốc binh họ hỳnh đã liều thân cứu nguy cho chúa Nguyễn Ánh, nay còn lưu danh vùng quận sông ông Đốc.

Nơi Tần Khánh hãy còn di tích một tòa thành lũy cũ Tân Khánh, nguyên là chỗ lánh nạn của chúa Nguyễn Ánh khi bị Tây Sơn đuổi bức. Nhân dân vùng Tần Khánh bấy giờ tập hợp nhau dưới sự chỉ huy của một vị lãnh tụ có tài (tương truyền là ông Tần Khánh Huỳnh) ; xét trong chính sử không thấy chép tên họ, nhưng suy nghiệm theo truyền sử, có lẽ đó là ông họ Huỳnh hoặc tên Hoàng, cư ngụ vùng Tần Khánh. Dân quân suy tôn ông làm Đốc binh, tục gọi Đốc Huỳnh, sẵn sàng hy sinh bảo vệ cho chúa Nguyễn Ánh chống Tây Sơn.

Quý Mão 1873, một sáng tinh sương, quân Tây Sơn kéo đến. Chiêng khua trống gióng vang ầm một góc trời. Chúa Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng đã mau chân lướt dặm băng ngàn, ngay sau khi có tiếng tù và của quân canh báo động, và sau lời khẩn thiết của Đốc Huỳnh :

– Chúa công hãy kịp lánh thân. Phen nầy ắt chẳng tránh khỏi một trường xung sát, vì binh Tây Sơn quyết dốc toàn lực tấn công.

Chúa Nguyễn Ánh khi ấy, ngậm ngùi bảo Đốc Huỳnh :

– Nếu thế giặc mạnh tợn, tướng quân liệu khó nhất thời chống nổi, chi bằng hãy tạm lui cả, đem nhau lánh nạn rồi sẽ hay.

Đốc Huỳnh khảng khái :

– Không nên đâu. Chúa công cần bảo trọng tấm thân, kịp lánh đi cho thoát. Hạ thần nguyện liều mình ngăn giặc cho.

Tây Sơn tấn công dữ dội. Đốc Huỳnh cố sức chống cự càng lâu càng hay, cố ý cầm chân một số đông binh tướng Tây Sơn, để chúa Nguyễn được cao bay xa chạy.

Trong tình thế bất lợi, Đốc Huỳnh đành ngã gục trong trận. Nhưng sự hy sinh của ông không uổng, nhờ đó Nguyễn Ánh qua khỏi cơn nguy.

Về sau, tên con sông ở vùng ấy mang tên là sông Đốc Huỳnh (hoặc Đốc Hoàng). Huỳnh (hay Hoàng) có nghĩa là màu vàng nên nhân dân cũng gọi trại là Đốc Vàng để kiêng húy. Ít lâu, tên sông đổi gọi là Huỳnh giang (sông Huỳnh hay Hoang). Bên sông có ngôi chợ gọi là chợ Huỳnh Giang, quán xá đông đúc, thuyền buôn tụ tập.

Sông Đốc Vàng hay sông Ông Đốc khi xưa nằm trong ranh tỉnh Bạc Liêu. Vì vùng nầy khá rộng, nên khoảng năm 1929 được tách ra làm 3 xã : Khánh An, Khánh Lâm và Khánh Bình. Người ta thường gọi là vùng “Tam Khánh”.

Đến năm 1949, lại tách ra làm 4 xã :

1 – An Bình

2 – Khánh Bình

3 – Trần Lợi

4 – Khánh Hưng.

Năm 1954, chính phủ Việt Nam cộng hòa lập lại nền hành chánh nơi đây, đặt lại thành hai xã : Khánh Bình A và Khánh Bình B thuộc quận Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu. Và qua năm 1955 theo sự phân chia ranh giới các xã trong quận Cà Mau, xã Phong Lạc trước kia thuộc quận Cái Nước, được ghép vào quận sông Ông Đốc, nên nay quận sông Ông Đốc gồm 3 xã : Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây và Phong Lạc, thuộc tỉnh An Xuyên (Cà Mau cũ đổi tên).

Cảnh hoàng hôn bao trùm trên vạn vật

Mây giăng tứ phía, trời nước bao la.

Nhớ lại chuyện xưa, nơi Cồn Đầm nầy,

Còn phảng phất vong linh một công nương,

Theo cùng phụ vương lánh nạn Tây Sơn,

Nhưng than ôi ! tới đây thì tuyệt mạng !

3) Những Cơ Sở Đồn Điền Do Kinh Lược Sứ Nguyễn Tri Phương Thiết Lập

Để chống Tây Sơn, ngoài việc tổ chức binh bị, chúa Nguyễn Ánh còn tổ chức kinh tế bằng cách cho thiết lập những cơ sở đồn điền.

Về tổ chức đồn điền, trong nguyệt sang “Sinh lực” số 14, ông Nguyễn Thiện Lâu giải thích :

“Trên một miền hãy còn hoang vu, ta đem trâu bò tới cày, ta đào mương lấy nước vào ruộng. Rồi ta lập làng. Những công trình khai thác nầy ta phải phòng giữ cẩn thận, nhất là những miền ở gần biên thùy như miền Hậu Giang, dân Miên thường hoành hành. Vì vậy, người nông dân Việt một mặt thì cày ruộng, lập làng, một mặt thì đắp đồn lính để phòng vệ…”

Bắt đầu từ năm Kỷ Dậu, 1789, chúa Nguyễn Ánh đặt ra chức quan Điền toán, cử các ông Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Hoàng Minh Khánh v.v… cả thảy 12 người xung vào chức ấy, chia nhau đi khắp các nơi ở miền Nam đốc suất dân chúng chăm lo vỡ đất làm ruộng, khai hoang lập ấp. Đến tháng 10 năm sau (Canh Tuất 1790), đặt sở đồn điền, giao cho quân đội phụ trách, khiến dân và quân thi đua canh tác hầu bảo đảm về mặt lương thực và thi đua phòng vệ để bảo đảm về mặt an ninh.

Bốn đội đồn điền nổi tiếng nhất, do tả quân Lê Văn Duyệt điều khiển, có công mở mang miền Nam rất nhiều. Kịp khi cụ Lê Văn Duyệt mất, 4 đội ấy tan rã. Nhưng thành tích của họ, khiến đoàn sau noi gương hăng hái tiến bước trên đường khai thác đất đai, phát triển kinh tế.

Riêng vùng Bạc Liêu, trong năm Tự Đức thứ tư (Quý Sửu 1853), Kinh lược Nguyễn Tri Phương đã đến đây tổ chức cuộc thiết lập đồn điền với hai mục đích : vừa bình định vừa khai thác. Những đồn điền cấp phát cho binh sĩ. Những người nầy lúc bình thường thì lo khẩn hoang làm ruộng, khi có việc biến thì bỏ cày bừa mà làm nhiệm vụ quân nhân. Ấy là chính sách rất hữu hiệu về cả hai mặt quân sự và kinh tế.

Tại tổng Thanh Hóa, Nguyễn Tri Phương đã biến đổi 6 làng : Vĩnh Thạnh, Mỹ Thuận (nay là Vĩnh Mỹ), Bình An, Hòa Thành (nay là Hòa Bình), Phước Thạnh và Tân Long (nay là Long Thạnh) thành 6 đồn điền. Cũng có nhiều đồn điền thành lập ở Cà Mau. Ấp Tân Lợi được gọi là Xóm Sở, chính là một di tích còn lại để chứng minh công nghiệp của Nguyễn Tri Phương.

Khi binh Pháp chiếm đóng miền Nam để làm bàn đạp tiến ra đánh miền Bắc, họ vẫn chấp thuận cho dân chúng được lập đồn điền, do Đô đốc Charner ký sắc lịnh ngày 19-3-1861. Nhưng sau đó, qua cuộc giao phong với các lực lượng dân quân khởi nghĩa chống xâm lăng, mà đa số binh sĩ xuất phát từ các đồn điền, người Pháp sực hiểu ra ý nghĩa tổ chức đồn điền của Nguyễn Tri Phương đã khởi xướng. Do đó đến ngày 20-9-1867, De Lagrandière ký sắc lịnh giải tán các cơ sở đồn điền, không cho dân chúng tổ chức hệ thống ấy nữa.

Ngày nay di tích đồn điền trong tỉnh Bạc Liêu Cà Mau nói riêng, khắp lãnh thổ miền Nam nói chung, ta không thể quên được công lao của vị Kinh lược đại sứ Nguyễn Tri Phương, cùng viên phụ tá là Kinh lược phó sứ Phan Thanh Giản, cách đây hơn một trăm năm.

4) Chùa Vĩnh Triều Minh Trong Quận Vĩnh Lợi

Trước kia, tại xã Vĩnh Lợi có rất nhiều người Minh Hương đến lập nghiệp. Họ ở từng vùng và đặt tên có chữ Vĩnh đứng đầu, với dụng ý hy vọng sẽ lập nghiệp vĩnh viễn tại đây, như các xã : Vĩnh Trạch, Vĩnh Châu, Vĩnh Hưng, Vĩnh Mỹ v.v…

Khoảng năm 1895, nhóm người Minh Hương trong vùng Vĩnh Lợi đứng ra xây cất một ngôi chùa lớn, mang tên là “Vĩnh Triều Minh”. Chùa nầy là một ngôi chùa cổ nhất trong vùng và hiện nay được gọi là chùa Minh.

Tương truyền : Một ngày xa xưa, có người Minh Hương già bơi thuyền trên rạch Giồng me, bỗng thấy hai cái lư hương bằng đồng nổi lềnh bềnh trên mặt nước ở hai nơi khác nhau. Cho là điềm Trời Phật cảnh tỉnh mình nên hướng thiện tu trì, ông lão Minh Hương hì hục vớt cặp lư hương đem lên bờ, cất hai mái tranh che đậy. Nghe đồn, dân chúng quanh vùng kéo đến chiêm ngưỡng, khấn nguyện. Hữu cầu tất ứng, hằng ngày khách thập phương lễ bái nườm nượp, quanh cảnh trong vùng trở nên phồn thạnh, cảnh trí tươi đẹp hẳn lên. Cảm mộ ơn trên gia hộ, nhóm người Minh hương bèn đóng góp xây cất chỗ chiêm bái cho khang trang, biến hai mái tranh thành hai ngôi chùa tráng lệ : một ngôi chùa Triều Châu, một chùa Minh hương tức chùa “Vĩnh Triều Minh” tục gọi là chùa Minh như đã kể trên.

Nhân đây, tưởng nên nói rõ thêm về người Minh hương và tinh thần yêu nước của họ :

Khi nhà Thanh đánh nhà Minh, một số đông người giống Hán nhà Minh bỏ nước ra đi. Trong số kéo sang lánh nạn ở nước ta, có ba đoàn người nay hãy còn ghi nhiều dấu tích oanh liệt.

1) Nhóm Trương Cầu, Mạc Cửu lập nghiệp ở Hà Tiên (chúng tôi sẽ nói rõ trong tập biên khảo về tỉnh Hà tiên).

2) Nhóm Trần Thượng Xuyên và tỳ tướng là Trần Bình An lập nghiệp ở Biên Hòa (xin xem quyển Biên Hòa xưa và nay sắp xuất bản).

3) Nhóm Dương Ngạn Địch và tỳ tướng là Huỳnh Tấn định cư ở Gò Công, Mỹ Tho, rồi sau vì Huỳnh Tấn giết Dương Ngạn Địch, đoàn người lưu vong trong nhóm thứ ba nầy không phục Huỳnh Tấn, nên lại đem nhau lên vùng Sài Gòn, lập nên Chợ Lớn còn dấu vết hiện giờ.

Đời chúa Nguyễn Phúc Chu, tất cả mấy nhóm người Tàu sang ta định cư, đều được lập riêng hai xã là Thanh Hà xã và Minh Hương xã. Gọi là “xã” chỉ là một giả định về mặt cai trị mà thôi, kỳ thật họ vẫn cư ngụ ngay trên đất của làng xã Việt Nam, chớ không có ranh giới chi riêng biệt. “Xã” của họ bấy giờ, gần như một “bang” của người Tàu ngày nay.

Danh từ “Thanh Hà xã” dần dần không được thông dụng, chỉ còn danh từ xã Minh Hương là được nhắc đến thường. Vì hai chữ “Minh Hương” nói lên rất rõ tất lòng không quên quê hương đất tổ của nhóm người Minh lưu vong tị nạn chính trị, hằng nuôi chí giải thoát giống Hán khỏi ách giống Mãn nhà Thanh. Do đó, nơi đâu có người Minh Hương thì có hội kín “Thiên Địa Hội” mà hội viên đều tuyên thệ với khẩu hiệu “phản Thanh phục Minh”.

Biết như thế, chúng ta không lấy làm lạ về tên chùa “Vĩnh Triều Minh” của người Minh Hương đã thiết lập nơi xã Vĩnh Lợi trong tỉnh Bạc Liêu xưa. Không bao giờ họ quên lai lịch của họ là con cháu của giống Hán trong đời Minh, phải bỏ nước lánh nạn Mãn Thanh xâm chiếm !

5) Ngôi Chùa Miên Bouthalet

Ngôi chùa cổ “Vĩnh Triều Minh” của người Minh Hương có tiếng bao nhiêu, thì ngôi chùa Miên “Bouthalet” cũng đáng kể vào hàng di tích xưa có giá trị bấy nhiêu.

Cũng như người Minh Hương, người Miên chẳng quên gốc của họ. Người Việt gốc Miên chiếm 18,4% dân số trong tỉnh. Họ có mặt ở tất cả các quận trong tỉnh, nhưng ở mỗi nơi họ tập trung lại từng xóm kêu là “Sóc”, đa số ở hai quận Vĩnh Lợi và Vĩnh Châu. Họ sống nghề làm ruộng, trồng rẫy, chài lưới. Đời sống giản dị thu hẹp trong sóc, ít đi xa.

Dẫu mang Việt tịch, người Miên vẫn giữ nguyên phong tục tập quán, lễ nghi và đạo giáo của họ. Về mặt tín ngưỡng, ở đâu có người Việt gốc Miên thì đều có chùa Miên, chẳng khác gì người Minh Hương đã làm.

Chùa Bouthalet của người Miên lập từ thời trước, lâu ngày đã sụp đổ. Về sau được viên Phủ Mầu (người Miên) tu bổ lại. Để tỏ lòng biết ơn, người Miên còn giữ tro cốt của Phủ Mầu sau khi hỏa tang, ở tại chùa nầy.

6) Chùa Vĩnh Phước An Và Chùa Tam Sơn Quốc Vương Hay Chùa Cây Me

Ngoài hai chùa Vĩnh triều Minh và Buothalet đã kể, hãy còn có chùa Vĩnh Phước An và chùa Tam Sơn quốc vương hay chùa Cây Me cũng có tiếng trong tỉnh.

Chùa Vĩnh Phước An trên đường đi ra biển, xây cất từ trước thời Pháp thuộc. Chùa nầy được thiện nam tính nữ đến lễ bái rất đông, vì bên trong thờ phụng cũng như các chùa khác, chẳng có gì huyền hoặc. Trái lại, chùa Tam Sơn quốc vương hay chùa Cây Me lại có một đoạn sự tích truyền kỳ :

Sau cuộc nổi loạn của hai người Miên tên Tia và Sum tự xưng đại tướng hay Đại nguyên soái (Sana) sách động dân chúng chống Nam triều, có hai người Hoa kiều tên Tua và Siêu chẳng rõ từ đâu đến Bạc Liêu để tuyển mộ người vào Thiên địa hội. Chúng tổ chức ở những đồng ruộng gần con lộ cao, đặt lư hương đốt nhang trầm hương khói suốt ngày đêm. Mục đích là lợi dụng sự mê tín của nhân dân để mưu đồ thực hiện những mục tiêu chính trị. Không để dung dưỡng những mưu đồ toan gây rối nầy, Nam triều phái một vị lãnh binh đem quân dẹp loạn. Chúng bị giải tán, bỏ những lư hương lại giữa đồng trống, gần rạch Giồng Me. Những trẻ chăn trâu nghịch ngợm khiêng để dưới gốc một cây tre. Đám người sùng tín thấy thế, mới cất một cái am tranh, lên nhang đèn cúng vái.

Bỗng có bịnh dịch tả hoành hành trong vùng. Hồi ấy y học còn phôi thai bất lực ; đối vớ bịnh dịch người ta còn tin ở quyền năng của quan ôn hơn là nghĩ tới vi trùng. Rồi thì khư khư lập đàn cầu đảo. Một vị thần nhập xác đồng tự xưng là Tam Sơn quốc vương, hứa sẽ cứu chữa cho những ai có lòng thành cầu khẩn.

Tin theo xác đồng, người trong vùng đua nhau đến am cây me dâng lễ vật cúng tế suốt ngày đêm. Không rõ thần linh thật hay sự tình cờ, bịnh dịch cũng vừa ngưng sát hại. Cảm ân ấy, người ta đóng góp xây nên ngôi chùa khả quan lưu đến ngày nay, mang tên là chùa “Tam Sơn Quốc vương”. Tuy nhiên, người ta vẫn quen gọi là chùa Cây Me hơn, mặc dầu cây me ở nơi đây lâu ngày đã trốc gốc không còn nữa.

7) Ngôi Mộ Cổ Của Ông Đào Châu Thái Và Nghĩa Địa Binh Sĩ Thời Gia Long Tẩu Quốc

Tại làng Vĩnh Lợi có một ngôi mộ cổ : mộ ông Tổng Việc Đào Châu Thái dưới thời Nam triều cai trị hai tổng Thạnh An và Thạnh Hưng nhập một.

Mặt khác, năm 1929 khi người ta đào đất tại làng Tân Duyệt (Cà Mau) để đúc nền xây cất quận đường, có tìm thấy một nghĩa địa dự đoán là của binh sĩ chúa Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đuổi ngặt chạy đến vùng nầy. Quật những ngôi mộ lên, thấy có những nữ trang, nút áo bằng mã nảo, và những vật dụng chỉ có trong hoàng triều tại Huế.

8) Di Tích Một Chiếc Thuyền Ngự Của Chúa Nguyễn Ánh Tại Rừng Năm Căn

Tại rừng Năm Căn thuộc U Minh hạ, hãy còn di tích một chiếc thuyền ngự của chúa Nguyễn Ánh đã vùi lấp nơi đấy. Căn cứ vào di tích nầy, người ta nhận thấy trước kia là bãi biển mà nay đất đã bồi thành rừng.

Nguyên khi bôn tẩu vào Nam, chúa Nguyễn Ánh đã lần theo vùng châu thổ Cửu Long giang để lẩn tránh Tây Sơn. Trong sự di chuyển, chúa Nguyễn khi thì đi đường bộ, lúc thì dùng đường thủy, đặc biệt khi theo đường thủy xuống tận vùng U Minh hạ bây giờ, chúa ngồi thuyền ngự dong ruổi. Gặp cơn Tây Sơn đuổi bức, chúa phải bỏ thuyền, lên bộ lướt dặm băng ngàn tị nạn.

Chiếc thuyền ngự bỏ hoang, lâu ngày chầy tháng đất phù sa lấp bồi hết cả thân thuyền, chỉ còn trơ mũi thuyền nổi lên cao. Chung quanh là rừng đước, tràm vẹt mọc lên bao phủ.

Những nhà làm củi về sau đến đấy, trông thấy mũi thuyền còn ló dạng, họ bèn hì hục đào bới lên xem thử. Tìm trong lòng thuyền hãy còn những đồ vật đáng giá, động lòng tham họ lấy đem về. Nhưng họ không giữ được lâu. Vì lạ thay ! lấy những đồ vật ấy về nhà thì y như rằng có chuyện lục đục xảy ra cho họ mãi. Cho là của thiêng có thần linh coi sóc, họ đâm hoảng đem lại trả chỗ cũ, rồi mới được an toàn.

Lại một truyền thuyết khác : Nơi ấy, vào những ngày lành tháng tốt, khoảng nửa đêm người quanh vùng thường nghe có tiếng quân binh hò hét vang rền, tiếng chân bước rầm rập theo nhịp quân hành, ước chừng như có cả một tiểu đoàn đang xông pha trên bãi chiến trường.

Do những điều kinh dị mà người quanh vùng từng chứng kiến, tiếng đồn lan xa, thiên hạ biết đến ngày một nhiều. Cho tới nay, dân chúng vùng U Minh hạ không mấy người chẳng biết chuyện chiếc thuyền chúa Nguyễn còn lưu dấu vết.

9) Miếu Hội Đồng Và Miếu Hải Linh

Về các ngôi miếu xưa, ở Cà Mau có miếu Hội đồng để thờ các vị linh thần tam giới. Và miếu Hải Linh, thờ linh thần giang hải.

Hai tòa miếu cũ nầy, trải qua các triều vua nhà Nguyễn đều được chăm sóc đến. Vì rất linh ứng.

Tương truyền lúc lánh nạn ở Cà Mau, bao nhiêu lần thoát hiểm của chúa Nguyễn Ánh, phần lớn nhờ nơi oai linh huyền bí, ở nơi rừng đất linh thiêng nầy. Bởi thế, chính chúa Nguyễn đã truyền thuyết lập miếu Hội đồng và miếu Hải Linh, trước đáp ơn sau đánh dấu cuộc đời luân lạc đã nhờ âm phù mặc trợ mà về sau gầy nên nghiệp lớn.

10) Đình Thần Tân Hưng, Vị Bổn Cảnh Thành Hoàng Được Nhân Dân Sùng Phụng, Vua Tự Đức Ban Sắc Phong Thần.

Khoảng trên một thế kỷ, nhân dân vùng Vĩnh Lợi đã họp nhau đóng góp xây cất một ngôi đình thờ vị thành hoàng trong vùng mình. Cố nhiên, lúc ban sơ ngôi đình chỉ lợp bằng lá, đâu đã được khang trang mỹ lệ như bây giờ. Nhưng chùa rách phật vàng, vị thành hoàng bổn cảnh rất linh thiêng, hữu cầu tất ứng, khiến dân chúng không ngớt tới lui chiêm ngưỡng, khói hương phụng cúng.

Kịp khi cụ Phan Thanh Giản ngồi chức Kinh lược phó sứ ở miền Nam (phụ tá Kinh lược đại sứ là Nguyễn Tri Phương), cụ Phan rất siêng cần việc nước, việc dân, thường đi quan sát tình hình sinh hoạt của dân chúng khắp nơi, đặt đại bảng dinh ở Long Hồ (Vĩnh Long ngày nay).

Một ngày kia, đi kinh lý huyện Long Xuyên (Cà Mau), ngang qua vùng nầy, trông thấy ngôi đình tuy xơ xác song không thiếu vẻ tôn nghiêm trang trọng, cụ Phan dừng chân cảm niệm, hỏi các quan chức địa phương :

– Đình nầy thờ ai ?

Các bô lão thưa :

– Chúng tôi thờ vị Thành hoàng bổn cảnh.

Cụ Phan chạnh lòng bảo :

– Được, để ta lo cho, hầu thêm rạng vẻ phần nào.

Các ông nhớ tháng sau thì lên bảng dinh của ta, ta sẽ viết sớ tâu vua, xin phong sắc Thần cho đầy đủ uy tín.

Các quan chức địa phương đều mừng. Gần đến ngày hẹn, hương chức trong vùng phái năm ba vị bô lão đại diện yết kiến cụ Phan. Phái đoàn ngồi thuyền đến Vĩnh Long, dọc đường chẳng khỏi bực mình ít nhiều với đám quân tuần còn quen thói hoạch họe hạch sách để đòi tiền hối lộ. Dằn lòng nuốt giận, chịu cực đủ thứ các vị bô lão mới vào được tư dinh cụ Phan, dâng điều thỉnh nguyện.

Cụ Phan nhớ lời và cảm tấm lòng thành của các vị bô lão, bèn làm sớ trao cho. Đã chẳng quản ngại gian lao, từ Bạc Liêu lên Vĩnh Long, chỉ vì một tấm tinh thành, sùng mộ vị Thành hoàng bổn cảnh, các vị bô lão lại vui mừng nhận sớ lên đường thẳng ra đế đô. Vất vả bao nhiêu trên đường ngàn dặm (đi bộ ròng rã suốt tám chín tháng) phái đoàn càng kiên trì tâm trí bấy nhiêu.

Ơn trên chẳng phụ, phái đoàn vào chầu vua (Tự Đức) được ban sắc thần cho.

Nguyên văn bản sắc thần :

“Sắc bổn cảnh Thành hoàng chi Thần, nguyên tặng quản hậu chi thần,

“Hộ quốc tì dân nẫm trứ, linh ứng chí kim phỉ ứng, địch mạng nên niệm thần hựu.

“Khả gia tặng Quản hậu chính trực hựu thiện đôn ngưng chi thần

“Nhưng chuẩn Phong thạnh huyện, Tân hưng thôn, y cựu phụng sự.

“Thần kỳ tương hựu, bảo ngã lê dân. Khâm sai.

Tự Đức ngũ niên, thập nhất nguyệt, trấp cửu nhật

Nghĩa :

“Lịnh triều đình phong sắc cho vị Thành hoàng bổn cảnh, chức vụ cũ là vị thần Quản hậu.

“Giúp dân giữ nước sáng tỏ công lao, linh ứng đến ngày nay, nhân dân bổn địa đều nhìn nhận.

“Lòng trẫm cũng tin tưởng là Thần giúp nên dân mới được bình an. Vậy hôm nay trẫm gia phong thêm là Quản hậu chính trực, hựu thiện đôn ngưng chi thần.

“Sắc nầy chỉ phong vị Thành hoàng tại thôn Tân Hưng huyện Phong Thạnh, nhân dân sở tại hãy y theo lối cũ mà phụng thờ.

“Thần sẽ giúp cho, và Thần phải hết bổn phận gìn giữ lê dân của Trẫm. Hãy vâng theo sắc lịnh.

Tự Đức năm thứ 5 (Nhâm Tý 1852) tháng 11 ngày 29

Phái đoàn thỉnh sắc thần về. Các vị bô lão đứng ra cất ngôi đình lại rộng lớn hơn, lợp ngói, vách ván.

Người đầu tiên dày công đôn đốc cất ngôi đình, chính là ông Triệu Vạn An – một địa chủ thời ấy.

Thời gian qua, khi ông Triệu Vạn Tượng làm Hương cả, một ngày kia xem lại, phát giác sắc thần đã bị ai lấy mất, truy nguyên mãi không ra mối. Ông Cả Tượng và các vị hương chức đành phải hương đăng trà quả khấn cáo trước linh vị Thần.

Hàng năm đáo lệ kỳ yên cúng tế 2 lần : đại lễ cầu an nhằm ngày 20 tháng giêng, long trọng hành lễ suốt 3 ngày và ngày 12 tháng 7, lễ cầu siêu bố thí.

Chúng tôi đến Bạc Liêu, sưu tầm tài liệu lịch sử, hân hạnh gặp bà Ngô Minh Hớn, phó Hội trưởng Hội Phật Học tại đây, hướng dẫn qua các ngôi chùa và đình thần, đồng thời bà cũng giới thiệu cho biết nhà ông Chánh bái đương kiêm đình Tân Hưng, nghe ông kể qua sự tích ngôi đình đã có trên một thế kỷ, được đồng bào dân chúng ở đây hết lòng sùng kính, chung lo kiến thiết nhiều đợt. Ngày nay rộng lớn đồ sộ để bảo tồn di tích lịch sử do công các bậc tiền hiền đã kể trên.

11) Miếu Công Thần

Ngoài những di tích trên bước đường lưu vong của chúa Nguyễn Ánh, còn có một di tích đặc biệt do chính chúa Nguyễn đã đốc suất nhân dân xây dựng nên. Ấy là miếu công thần tại Cà Mau.

Lúc từ Phú Quốc về, chúa Nguyễn ghé lại bãi Cửa Lớn tại vàm sông Bãi Háp. Miên man nhớ lại những ngày qua đây hãi hùng lo âu, rồi tưởng niệm công ơn những người đã tử trận trong cơn hộ giá quanh vùng Cà Mau, chúa Nguyễn bèn truyền lập một tòa miếu công thần, để hằng năm khói hương truy điệu.

Tòa miếu nầy đầu tiên xây cất ở một nơi mà về sau chánh quyền Pháp đã lập bót cò (Gendarmerie). Sau dời về phía bên kia sông gần chùa ông Tô Xuân (Quan âm cổ tự) và đình làng An Xuyên.

5/5 - (1 vote)
Rakuten Marketing Welcome Program